CHƯƠNG 1 YẾU TỐ GIỚI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẤU TẠO TỤC NGỮ 1.1 Khái niệm về tục ngữ Trong các công trình về tiếng Nhật, hầu hết các nhà Nhật ngữ học đều thống nhất sử dụng hai cách gọi “Kotowaza” (ことわざ) và “Kanyouku” (慣 用句) cho 2 loại đơn vị ngôn ngữ cố định có nội hàm không hoàn toàn giống nhau. Trên cơ sở đặc trưng của từng kiểu loại, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng Kotowaza đa phần tương đương với đơn vị tục ngữ của tiếng Việt, còn Kanyouku đa phần tương đương với đơn vị thành ngữ. Từ trước đến nay ở Nhật Bản có rất nhiều định nghĩa, quan niệm về tục ngữ, thành ngữ. Trong “ 慣用句の体系的分類” Phân loại hệ thống thành ngữ của Momiyama Yosuke (1997)17 có viết : “Thành ngữ là một liên kết cố định của nhiều từ, trong đó ý nghĩa của tổng thể không thể bắt nguồn từ tổng số ý nghĩa mà các từ cấu thành riêng lẻ, hoặc cũng có khi chúng không phải là một phần của liên kết đó.
Hay Shiraishi Daiji (1950)18 cho rằng: “Thành ngữ(イディオム)là đơn vị ngôn ngữ có những đặc điểm cơ bản: Về hình thức, thành ngữ giống như cụm từ nhưng là cụm từ đặc biệt. Là cụm từ bởi thành ngữ bao gồm ít nhất từ hai từ trở lên. Là cụm từ đặc biệt bởi thành ngữ có tổ chức cấu trúc nghiêm ngặt, thường không thể thêm bớt từ hay thay đổi một cách tự do trật tự của chúng; có nghĩa biểu trưng, bóng bẩy, ẩn dụ. ” Còn với tục ngữ, trong luận án tiến sỹ “モンゴル語と日本語のこと わざにおける男女の意識 とその変化-ジェンダーの視点から” (Ý thức giới và những biến đổi của nó trong tục ngữ Mông Cổ và Nhật Bản - nhìn từ góc độ giới) của Shunka (2012) 19 thì “Tục ngữ là tác phẩm văn học của con 17 籾山 洋介(1997) 「慣用句の体系的分類」, 名古屋大学国語国文学会, tr.29 18 白石 大二(1950) 「日本語のイディオム」 三省堂出版 国語双書,tr.112 19 春香(2012)「モンゴル語と日本語のことわざにおける男女の意識 とその変化-ジェンダーの視点から」都北 大学、tr.19 16 người được lưu truyền trong xã hội từ xa xưa.
Tác giả của những câu văn này vẫn chưa được xác định và mọi người cho rằng hầu hết chúng không phải được tạo ra bởi một người cụ thể mà chúng đại diện cho lối suy nghĩ và giá trị chung của mọi người và đã được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.” Theo như cuốn “日英比較ことわざ辞典”(từ điển so sánh thành ngữ, tục ngữ Nhật- Anh ) Yamoto 20 cho rằng: ''Kotowaza được kết tinh từ trí tuệ anh minh của nhân dân. Với hình thức ngắn gọn hàm súc, cùng sự tinh tế đầy tình người và cách thể hiện rất thú vị nhờ âm điệu, những chân lý, những lời giáo huấn hoặc những điều hài hước được rút ra từ sự trải nghiệm của nhân dân qua thời gian dài năm tháng, đã được người ta vận dụng nhiều trong mọi cảnh huống của đời sống thường nhật". Kotowaza (Tục ngữ) là thành tố quan trọng nhất trong văn hóa dân gian của Nhật Bản. Theo “日本語大辞典” 21(Đại từ điển tiếng Nhật ) đây là những lời giáo huấn, sự phê phán nhẹ nhàng từ xưa truyền lại phần lớn do người Nhật tạo ra.
Có thể coi kotowaza là cuốn sách giáo khoa lớn về kinh nghiệm cuộc sống quý giá được đúc kết từ đời này sang đời khác, được truyền từ người này sang người khác. Qua kotowaza, chúng ta có thể hiểu về một nền văn hoá đa sắc diện, độc đáo vừa truyền thống và cũng rất hiện đại của đất nước và con người Nhật Bản, đồng thời qua kotowaza cũng phần nào hiểu được hệ tư tưởng dân gian, cách trị nước an dân, những bài học kinh nghiệm, cách ứng xử thích hợp trong cuộc sống, những tri nhận về tự nhiên.ví dụ: “兄弟は手足なり” (keiteiwashusokunari) Anh em như chân với tay, “子持て ば親心” (komotebaoyagokoro) “ 生あれば食あり” (seiarebashokuari ) Các học giả Việt Nam đã có những quan tâm đến thành ngữ và tục ngữ bằng những nhận xét như sau: 20 山本忠尚 監修 (1980) 『日英比較ことわざ辞典』創元社, 編集部 119, tr.129 21 講談社カラー版 (1989)『日本語大辞典』、tr.102 17 Lê Chi Quế căn cứ vào đặc tính văn học của thể loại để nhận xét về tục ngữ: "Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nó phản ánh và đúc kết mọi mặt tri thức, đời sống của nhân dân thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo.22 Đỗ Hữu Châu cho rằng, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ, trong khi ngữ cố định có tính chất tương đương với từ hoặc cụm từ thì tục ngữ là những đơn vị tương đương với câu, và trong khi ý nghĩa của các ngữ cố định tương đương với nghĩa của cụm từ thì nghĩa của tục ngữ là “một phán đoán, một sự đánh giá, một sự khẳng định về một chân lý, một lẽ thường đối với một nền văn hóa nào đó, nghĩa là một tư tưởng hoàn chỉnh”23 Trong bài "Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ " Nguyễn Văn Mệnh đã kết luận "Có thể nói nội dung của một thành ngữ mang tính chất hiện tượng còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất quy luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau cơ bản về hình thức ngữ pháp.
Mỗi thành ngữ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn. Mỗi tục ngữ “tối thiểu là một câu” 24. Trong “Tục ngữ Việt Nam”25, Chu Xuân Diên đã viết: "Tục ngữ là một đơn vị độc lập, có những đặc điểm truyền thống về mặt cấu trúc, hình thức cũng như về mặt tạo nghĩa".
Về thành ngữ tục ngữ tác giả còn nói rõ thêm: "Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều là những sản phẩm của sự nhận thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân. Sự khác nhau là ở chỗ những tri thức ấy khi được rút lại thành những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, diễn giải thành các phán đoán thì ta có tục ngữ.” 22 Lê Chi Quế (2001) Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, tr.239 23 Đỗ Hữu Châu (1996) Ngôn ngữ học thực hành, NXB Giáo dục Việt Nam , tr.75 24 Nguyễn Văn Mệnh ( 1972) Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ ,Tạp chí ngôn ngữ số 3, tr.13 25 Chu Xuân Diên ( 1985) Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội,11, tr.160 18 Mặc dù cùng sử dụng các từ gốc Hán vay mượn từ Trung Hoa song cách hiểu của người Việt và người Nhật về khái niệm thành ngữ (kanyoku) và tục ngữ (kotowaza) có ít nhiều khác nhau. Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu trên có thể nhận định tục ngữ có đặc điểm chung nhất đó là: Tục ngữ là trí tuệ mà con người đúc kết được qua nhiều năm kinh nghiệm, là bài học và chân lý được lưu truyền từ xa xưa. Từ câu tục ngữ, có thể thấy được lối sống, cách nghĩ của con người trong thời đại hình thành ra nó.
Tục ngữ, với tư cách là một dạng ngôn ngữ, cũng thay đổi theo thời gian. Có nhiều trường hợp những câu tục ngữ đã từng sử dụng nay không còn được sử dụng nữa, hoặc ý nghĩa của những câu tục ngữ đã có những thay đổi nhất định so với ý nghĩa trước đây. Từ đó có thể thấy được những thay đổi thay đổi trong tư duy, quan niệm của xã hội trong những giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Và chúng ta có thể rút ra được sự giống và khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ - kotowaza như bảng dưới đây : Bảng 1.1: Phân biệt thành ngữ và tục ngữ Thành Ngữ Tục Ngữ Có ý nghĩa hoàn chỉnh, mang tính ví von, ẩn dụ, bóng bẩy và Giống nhau mang 2 tầng ngữ nghĩa Có hình thái cấu trúc là cụm Câu hoặc phát ngôn cố định từ cố định hoặc cụm Chủ- Vị (gồm cả câu đơn và câu ghép) Có chức năng định danh sự Có chức năng định danh sự Khác nhau vật, hiện tượng, quá trình, kiện, sự tình, trạng huống quan hệ Có tính tái hiện trong lời nói, Đúc kết kinh nghiệm và có có tính miêu tả tính tri thức 19 1.
Đặc trưng của tục ngữ tiếng Nhật. Theo như từ điển : “ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ 辞典” (Phân biệt giới tính biểu hiện trong tục ngữ) Watanabe Tomosuke (1995)26 thì tục ngữ có những đặc điểm cơ bản như sau: - Qui tắc 1: Bản chất của tục ngữ: tục ngữ là tác phẩm ngôn ngữ phê phán con người, thế giới con người, các sự kiện xã hội, hiện tượng tự nhiên, nắm bắt chính xác chân lý và diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn. - Qui tắc 2: Chức năng của tục ngữ: vì tục ngữ có bản chất được mô tả ở qui tắc 1 nên tục ngữ thường dùng làm cơ sở để lựa chọn, quyết định các thái độ, hành động trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng có chức năng làm cơ sở cho sự hợp lý hóa. Nó là cơ sở để giải thích và hiểu được thái độ và hành động của người khác.
- Qui tắc 3: Tác giả của các câu tục ngữ: thường không thể xác định được. Tục ngữ vốn được sinh ra từ con người và vì mang bản chất được mô tả ở qui tắc 1 và chức năng được mô tả ở qui tắc 2 nên chúng được truyền bá đồng thời trong nhiều người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi nhiều người. Trong kho tàng văn hóa dân gian, tục ngữ mang đậm nét đặc trưng đa dạng và phong phú, nhằm phản ánh đầy đủ đời sống văn hóa tinh thần muôn màu muôn vẻ của đại đa số quần chúng. Do không có giới hạn của không gian và thời gian cho sự hình thành và phát triển của tục ngữ, nên để đi đến kết luận chung về nét đặc trưng của tục ngữ quả là khó khăn.
Tuy nhiên, qua một quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tìm ra được những nét đặc trưng tương đối của tục ngữ. Như vậy, theo một số nhà nghiên cứu Nhật bản, tục ngữ tiếng Nhật mang những nét đặc trưng cơ bản sau: 26 渡辺友左(1995)「ことわざに表れた性差別 男と女のことわざ辞典 」南雲堂, tr.162-165 20 - Mang tính cố định trong cách dùng, trong toàn bộ hoặc bộ phận nghĩa, về cấu trúc và ngữ nghĩa, về ngữ pháp. - Có hình thức ngắn gọn và trau chuốt - Phản ánh triết lý cuộc sống của quần chúng, có thể là những biểu hiện mang tính quy luật chung của xã hội, hoặc mang tính giáo huấn chung. - Là sản phẩm chung của xã hội và phản ánh tính thời đại, có thể chứa các yếu tố thể hiện tính vùng miền, - Thường sử dụng nhiều phép tu từ đa dạng.
- Tục ngữ có hai nghĩa : nghĩa đen và nghĩa bóng, nghĩa cụ thể và nghĩa khái quát.