Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1. Một số vấn đề lý luận về nhân thân ngƣời phạm tội 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một con người cụ thể mà khi nghiên cứu về tình trạng phạm tội nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng, cần thiết phải nêu được những đặc điểm liên quan đến bản thân người phạm tội. Xuất phát từ quan điểm người phạm tội là một con người chứa đựng những đặc điểm vốn có nhất định.
Ngoài ra, người phạm tội còn có những đặc điểm khác mà một người bình thường không thể có được cho nên, để nêu được khái niệm NTNPT thì chúng ta phải biết được, phải hiểu được nhân thân của một con người. Theo khái niệm chung của xã hội học Mác – Lênin về nhân thân con người thì nhân thân – đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện thông qua vị trí của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù mang tính xã hội – lịch sử. Nhân thân sẽ không thể được làm sáng tỏ nếu xem xét nó với tư cách là một hiện tượng tách biệt và khép kín, tách rời nó với hiện thực xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể đặc trưng cho hiện thực đó.
Với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, được đặc trưng bởi những đặc tính và phẩm chất cá nhân đa dạng, mỗi cá nhân cụ thể có một nhân thân tương ứng. “Khái niệm nhân thân đồng thời cũng bao hàm cả con người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một công dân, là đại diện của các giai cấp, các nhóm xã hội nhất định v.v…, là người mang trong mình một số các đặc điểm xã hội điển hình” [44, tr. Một dấu hiệu rất quan trọng của nhân thân con người đó là ý thức, là toàn bộ thế giới tinh thần nội tại của nó. Khi được thiết định bởi các điều kiện xã hội bên ngoài, bản thân thế giới tinh thần này trở thành một yếu tố cấu thành tích cực của nhân thân, nó trung gian hóa sự tác động của mọi biểu hiện trong xã hội đến con người sao cho phù hợp với nội dung riêng của nó; đồng thời trong mỗi trường hợp 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụ thể, nó xác định việc con người sẽ lựa chọn lập trường xã hội nào, lựa chọn cách xử sự này hay cách xử sự khác.
Các hiện tượng tâm lý đan xen một cách hữu cơ với cuộc sống toàn vẹn của cá nhân, vì chức năng hoạt động cơ bản của mọi hiện tượng và quá trình tâm lý là điều tiết hoạt động của con người. Khi nói đến nhân thân con người là chúng ta muốn nói đến sự tổng hợp các đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học các đặc điểm về xã hội học, đạo đức – tâm lý. Cần phải quan tâm đến các giá trị xã hội và phương diện của hiện thực xã hội, những người xung quanh, gia đình, bố, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh em, tài sản, lao động, các nghĩa vụ công dân v.v… Nội dung của các mối quan hệ đó đặc trương cho định hướng của nhân thân.
Đối với nhân thân, quan trọng hơn cả là có được các mối quan hệ sâu sắc và ổn định, vì xuất phát từ đó mà hình thành nên quan điểm, lý tưởng, lập trường, quan niệm đạo đức của con người. “Cách xử sự của con người trong xã hội – mà nhân thân thể hiện ra bên ngoài, cũng gắn liền với lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc và ý chí của nhân thân” [44, tr.99] Bản chất của nhân thân thể hiện ở chỗ nó không bị quy về các đặc thù tâm lý cá nhân của con người, mà là sự thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng trong sự phát triển và hình thành. Cho nên nhân thân kế thừa và phản ánh kinh nghiệm xã hội của mọi thế hệ trước, tiếp xúc ở một chừng mực nào đó với các thành tựu văn hóa, lao động, sáng tạo, ứng xử xã hội mang tính nhân loại chung của các dân tộc khác nhau và đồng thời nắm bắt lấy chúng. Ngoài ra, nhân thân bao giờ cũng thể hiện các đặc điểm của một chế độ xã hội nhất định trong ý thức giai cấp, trong thế giới quan chung và lý tưởng chính trị của mình v.v… Cuối cùng, nhân thân con người là sự thể hiện các đặc điểm cá nhân không lặp lại, trong đó phản ánh con đường sinh sống cá thể của con người, sự tồn tại cá nhân của nó – đó là sự tồn tại được quy định bởi một nội dung cụ thể của các mối quan hệ gia đình, sản xuất, sinh hoạt v.v… “Đó cũng chính là môi trường vi mô mà trong đó con người sống, hoạt động và hình thành với tư cách là một nhân thân” [44, tr.100] Từ sự phân tích trên, cho phép chúng ta đưa ra khái niệm nhân thân con 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người – đó là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội của mỗi con người cụ thể, bao gồm: các đặc điểm, dấu hiệu về xã hội – nhân khẩu học như giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh sống, hoàn cảnh kinh tế; các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu, sở thích, thói quen, lý trí, ý chí, cảm xúc, tình cảm… và các đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội khác.
Theo khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm, do con người cụ thể (có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS) thực hiện một cách có lỗi, xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, nói đến NTNPT trong lĩnh vực luật hình sự là nói đến nhân thân của chính con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Như đã phân tích ở trên, nhân thân con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội. Theo đó, NTNPT bao gồm trong nó tổng hợp các đặc điểm của cá nhân về mặt sinh học, mặt xã hội, nói lên tính chất của con người đã thực hiện tội phạm.
Con người khi được sinh ra không sẵn chứa trong mình khả năng trở thành tội phạm mà khả năng đó chỉ trở thành hiện thực dưới tác động tiêu cực của nhiều yếu tố trong quá trình con người tự hoàn thiện về mặt sinh học, tâm lý, nhân sinh quan. Quá trình đó cho thấy NTNPT là phạm trù có tính lịch sử vì “những đặc điểm về nhân cách của người phạm tội không phải được tiềm ẩn ở con người đó ngay từ khi mới sinh ra, mà chúng được hình thành dưới sự ảnh hưởng, tác động của môi trường không thuận lợi bên ngoài” [43, tr.50] trong quá trình trưởng thành của con người. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” [8, tr.
Trong khoa học pháp lý hình sự, dựa trên kết luận của Mác đã có nhiều công trình nghiên cứu về NTNPT dưới các góc độ khác nhau. Trong đó, các nhà khoa học luật gia nước ta đã có một số quan điểm về NTNPT như sau: - GS. Lê Cảm: “NTNPT theo luật hình sự đó là hệ thống các thuộc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính có ý nghĩa xã hội của người đã thực hiện tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo người đó bằng các biện pháp và pháp lý hình sự” [10]. TS Đỗ Ngọc Quang: “NTNPT là tổng hợp những đặc điểm, những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội” [27, tr.132] - Theo tác giả Lý Văn Quyền “ khái niệm NTNPT được hiểu là nhân thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt” [45, tr.131] - Theo TS Nguyễn Mạnh Kháng “NTNPT là tổng hợp các đặc tính, các dấu hiệu thể hiện bản chất của con người mà trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh” [26].
- Theo ThS Võ Khánh Vinh: “NTNPT tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [53].TS Kiều Đình Thụ:” NTNPT là tổng hợp tất cả những khía cạnh xã hội đặc trưng của người phạm tội tạo thành cá nhân, có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS” [11, tr.169] Theo quan điểm của chúng tôi, NTNPT – đó là nhân thân của người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng trị. Như vậy, chỉ có việc thực hiện hành vi phạm tội mới cho phép phân biệt nhân thân của người phạm tội với nhân thân của con người nói chung. Ngoài ra, dù con người có chứa đựng các đặc điểm tiêu cực giống với các đặc điểm đặc trưng cho người phạm tội đến đâu đi nữa thì cũng không được phép coi người đó là người phạm tội nếu họ không thực hiện hành vi phạm tội, cũng như không được phép xuất phát từ tính tất yếu cho rằng cá nhân này hay cá nhân khác phải là tội phạm. NTNPT, dù cho tự nó có những biểu hiện này hay biểu hiện khác, kể cả việc thực hiện tội phạm nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, thì để đánh giá đúng về nó và hơn nữa là về nhân thân nói chung cũng chỉ có được trên cơ sở xem xét mọi đặc tính xã hội quan trọng và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.