Chương 1 LÝ LUẬN NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội. Khái niệm nhân thân người phạm tội Nhân thân người phạm tội là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hình thành hành vi phạm tội của cá nhân, mà khi nói đến cá nhân là nói đến con người. Con người với tư cách là thành viên của xã hội, tham gia vào các quan hệ xã hội, thực thể của xã hội.
Vì thế khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm “nhân thân” và khái niệm “người phạm tội” [41,Tr. Nhân thân con người là sự thống nhất giữa các đặc tính xã hội và đặc tính sinh học, là sự tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào tất cả các mối quan hệ xã hội. Tiếp cận dưới góc độ luật hình sự thì nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc diểm riêng biệt của người phạm tội có nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó [39,Tr. Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội có phạm vi rộng hơn nhiều so với Luật hình sự.
“Đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là con người phạm tội chứ không phải là con người nói chung. Người phạm tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm” [41,Tr. Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong mối quan hệ tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở trên phạm vi một địa bàn hành chính – lãnh thổ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm – sinh lý – xã hội, nhân khẩu – nhân chủng học, dân tộc học và pháp lý. Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội chính là nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm, dấu hiện riêng biệt của người phạm tội.
Các đặc điểm riêng có có thể là tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình, đời sống kinh tế, thái độ chính trị, sở thích cá nhân, ý thức chấp hành pháp luật, địa bàn-vùng miền trưởng thành,. Tuy con người sinh ra không phải để trở thành người phạm tội, nhưng con người có khả năng trở thành người 8 phạm tội, khi trong quá trình tương tác với các thiết chế xã hội, đã hình thành nên các đặc điểm nhân thân tiêu cực và khi nó gặp được những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện thuận lợi sẽ thúc đẩy con người đó thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, nhân thân người phạm tội là “Tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [51,Tr. Hoặc có thể định nghĩa theo kiểu liệt kê cụ thể của nội hàm và ngoại diện là “Tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở một địa bàn hành chính – lãnh thổ nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm-sinh lý-xã hội, nhân khẩu-nhân chủng học, dân tộc học và pháp lý, những cái có ý nghĩa, có giá trị thiết thực cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để có giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp” [33, Tr 212- 222].
Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội Trong lý luận tội phạm học, nhân thân của người phạm tội được hình hành từ nhóm đặc diểm sinh học, nhóm đặc điểm tâm lý và nhóm đặc điểm xã hội [51, Tr 103]. Để nghiên cứu nhân thân người phạm tội ta cần làm rõ các đặc điểm sau đây của người phạm tội: 1. Nhóm đặc điểm sinh học Nghiên cứu về nhóm các đặc điểm sinh học của nhân thân người phạm tội nghĩa là đi nghiên cứu về giới tính và độ tuổi của người phạm tội. - Khi nghiên cứu giới tính của người phạm tội, thì tội phạm học tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: tỷ lệ phạm tội giữa nam giới và nữ giới thực hiện, giới tính có ảnh hưởng như thế nào đối với cơ chế hình thành hành vi phạm tội.
Những kết quả nghiên cứu của các nhà tội phạm học cho thấy nam giới một số loại tội phạm chủ yếu chỉ do nam giới thực hiện, hoặc chỉ do nữ giới thực hiện; nữ giới lại có nhiều thuận lợi khi thực hiện và che dấu tội phạm hơn nam giới. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây với sự cởi mở của xã hội làm cho giới tính thứ ba (bê đê, ô môi) lại xuất hiện càng nhiều và thực hiện hành vi phạm tội có hành vi và thủ đoạn mang tính đặc thù. Việc xác định được sự ảnh hưởng của giới tính trong cơ chế hành vi phạm tội sẽ có nhiều ý nghĩa trong đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm. 9 - Đặc điểm lứa tuổi của những người phạm tội thể hiện được mức độ tích cực phạm tội và các đặc điểm về hành vi chống đối xã hội của những người thuộc lứa tuổi khác nhau, đặc điểm của thành phần lứa tuổi của những nhóm người phạm tội khác nhau.
Thực hiện nghiên cứu đặc điểm lứa tổi trong nhân thân người phạm tội, tội phạm học cũng tiến hành nghiên cứu để xác định được hai vấn đề quan trọng đó là lứa tuổi nào phạm tội nhiều nhất, lứa tuổi nào phạm một số tội chủ yếu, trong cơ chế hình thành hành vi phạm tội giữa các lứa tuổi có gì khác nhau, vai trò của từng lứa tuổi ra làm sao. Độ tuổi của người phạm tội thường được các nhà tội phạm học chia làm nhiều nhóm với những đặc trưng riêng gắn với tâm lý lứa tuổi. Đa số các quan điểm hiện nay chia người phạm tôi theo lứa tuổi ra làm bốn nhóm: Nhóm người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi; nhóm người từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi; nhóm người từ đủ 30 đến dưới 45 tuổi; nhóm người trên 45 tuổi. Theo cách phân chia này những người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi là những người có đặc điểm tâm lý và nhận thức chưa đầy đủ, còn thiếu kinh nghiệm trong xử lý tình huống trong cuộc sống, họ là những người rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo và chịu ảnh hưởng nặng nhất của những yếu tố tiêu cực của môi trường sống bên ngoài.
Những người trong độ tuổi từ 18 đến dưới 30 tuổi là những người đã hoàn thiện về mặt tâm sinh lý, tuy nhiên lứa tuổi này đang trong giai đoạn định hướng nghề nghiệp, tạo lập cuộc sống riêng nên sự diễn biến tâm lý vô cùng phức tạp và cũng dễ bị ảnh hưởng của những yếu tố, hiện tượng tiêu cực bên ngoài môi trường sống. Những người nằm trong nhóm tuổi từ đủ 30 đến dưới 45 tuổi là lứa tuổi đã hoàn toàn chín chắn về mặt suy nghĩ cũng như tâm sinh lý, cuộc sống đã đi vào ổn định và đa số đã lập gia đình, làm cha, làm mẹ, nghề nghiệp của họ đã được ổn định nên cũng ít chịu ảnh hưởng của những nhân tố tiêu cực từ cuộc sống bên ngoài so với hai nhóm tuổi trước. Lứa tuổi trên 45 là độ tuổi đã có sức ỳ trong suy nghĩ và hành động. Những người trong độ tuổi này thường an phận, chấp nhận cuộc sống hiện tại, ngại thay đổi nhưng vô cùng tham vọng, nhưng diễn biến tâm lý lại biến đổi theo chiều hướng tiêu cực như bảo thủ, chậm tiến.
Nhiệm vụ của tội phạm học là cần phải nghiên cứu tác động của từng lứa tuổi trong việc hình thành các đặc điểm nhân thân xấu, có vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội; làm rõ vai trò của độ tuổi trong việc lựa 10 chọn phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm. Đây là cơ sở quan trọng trong việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm cho toàn xã hội. Nhóm đặc điểm nhận thức, tâm lý Các đặc điểm tâm lý -xã hội của cá nhân thể hiện đối với các quan hệ đối với nhà nước, xã hội, nghĩa vụ công dân, tập thể những người xung quanh và đối với chính bản thân cá nhân đó. Khi nghiên cứu nhóm đặc điểm nhận thức, tâm lý của nhân thân người phạm tội các nhà tội phạm học thường tập trung nghiên cứu các vấn đề đặc trưng như trình độ học vấn, hệ thống các nhu cầu, hứng thú, định hướng giá trị cũng như ý thức đạo đức, ý thức pháp luật của họ.
Theo đó, nhiều nghiên cứ về tội phạm học đã chứng minh được rằng trình độ học vấn là yêu tố phản ảnh phần lớn mức độ nhận thức của người phạm tôi khi thực hiện hành vi phạm tội. Trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ thuận với mức độ nhận thức, hiểu biết càng cao, nhất là hiểu biết về những quy định của pháp luật. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng kiềm chế, kiểm soát hành vi của mình, trong thực hiện các hành vi phạm tội. Ngược lại, trình độ học vấn càng thấp thì thường đi kèm với trình độ hiểu biết thấp, đặc biệt là hiểu biết về kiến thức pháp luật, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp phạm tội do thiếu hiểu biết.
Đối với các đặc điểm về nhu cầu của nhân thân người phạm tội, tội phạm học tập trung làm rõ sự ảnh hưởng của nhu cầu đối với việc làm phát sinh động cơ, mục đích phạm tội và sự ảnh hưởng của nhu cầu lên hành vi và việc xử sự của con người khi nó không được thỏa mãn. Mỗi cá nhân trong xã hội có sự khác biệt nhau bởi tính chất, nội dung của nhu cầu cũng như các biện pháp thỏa mãn nhu cầu. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về đặc điểm nhu cầu của người phạm tội thì tội phạm học nhận thấy có sự hạn hẹp của các nhu cầu, sự mất cân đối trong hệ thống nhu câu, thường tập trung vào một số nhu cầu thực dụng và cực đoan. Những nhu cầu biến dạng, đi ngược lại với những chuẩn mực đạo đức xã hội và trái quy định của pháp luật (chẳng hạn như sử dụng ma túy, nghiện rượu, nghiện game online.
Biện pháp, cách thức để thỏa mãn nhu cầu của người phạm tội cũng vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội và trái pháp luật. Nhu cầu của con người được hình thành và phát triển trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định, trong quá trình hoạt động của mỗi cá nhân, nó vừa mang tính cơ động lại vừa có tính bền vững, ổn định.