Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN SINH QUAN VÀ FOLKLORE 1. Nhóm công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Có thể nói, không có nhiều công trình bàn trực tiếp vấn đề nhân sinh quan hay lý luận về nhân sinh quan. Trong hầu hết các công trình mà chúng tôi khảo cứu về vấn đề này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra những nhận định hoặc những khía cạnh khác nhau thuộc phạm trù nhân sinh quan.
Vì đề tài nghiên cứu nhân sinh quan theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, nên chúng tôi đã khảo cứu khá nhiều công trình về nhân sinh quan dưới góc nhìn triết học mácxít: Trong hai tác phẩm Quan niệm của C. Ăngghen về con người và sự nghiệp giải phóng con người của Bùi Bá Linh [73] và “Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển con người cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” của Hòang Đình Cúc [13], học thuyết Mác về con người được các tác giả luận giải trên cơ sở làm rõ quan niệm về “cơ sở hiện thực” cho sự tồn tại của con người với tư cách thực thể sinh học - xã hội, về lao động với tư cách là điều kiện quyết định của sự hình thành con người, về sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người, về mối liên hệ giữa cá nhân và xã hội, về sự giải phóng con người, giải phóng xã hội. Từ đó, các tác giả phân tích, làm rõ phương hướng chung về phát triển con người mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định trong công cuộc đổi mới đất nước và đề xuất một số giải pháp để thực hiện phương hướng đó. Hai tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm và Vũ Trọng Dung đã nhận định qua các bài viết “Những tư tưởng cơ bản của C.Lênin về 7 mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên” [111] và “Hiểu quan điểm của C.Mác về bản chất con người như thế nào?” [17] rằng: chỉ có trên cơ sở xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về con người mới thấy được bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải là cái vốn có trong cơ thể riêng lẻ mà là tổng hòa các quan hệ xã hội; không chỉ là các quan hệ hiện tại trong đó con người đang sống mà còn là những quan hệ xã hội trước kia, những quan hệ cổ truyền của quá khứ còn in đậm trong con người hiện thời, những di sản của thế hệ đi trước mà con người kế thừa trong lịch sử của mình [17, tr.
Nhóm tác phẩm “Về triết lý con người chinh phục tự nhiên” của Hồ Sỹ Quý [84] , và “Xây dựng đạo đức sinh thái - một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên” của Phạm Thị Ngọc Trầm [112] chủ yếu bàn về mối quan hệ biện chứng giữa con người với giới tự nhiên. Các tác giả phân tích vai trò của tự nhiên đối với con người, xã hội cùng với sự tác động của con người lên tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn của mình. Trong quan hệ đạo đức sinh thái, con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên là khách thể; sự tác động giữa chúng chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con người và xã hội, bỏ quên lợi ích và giá trị nội tại của khách thể tự nhiên. Vì vậy, con người đã gây ra những hậu quả khôn lường cho môi trường sống.
Cuối cùng, các tác giả kết luận, vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái phải được tiến hành ở mỗi thành phần cấu trúc của nó: ý thức đạo đức, quan hệ đạo đức, ở sự kết hợp hành vi đạo đức với trách nhiệm xã hội của con người trong ứng xử với tự nhiên, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của tự nhiên và con người. Trong các công trình nêu trên, người đọc có thể hiểu được những vấn đề cơ bản về nhân sinh quan triết học mácxít như: bản chất con người là gì?, mối quan hệ của con người với con người trong xã hội, mối quan hệ của con người với giới tự nhiên, vấn đề giải phóng và phát triển toàn diện con người. 8 Một số công trình đi vào nghiên cứu vấn đề nhân sinh quan trong các học thuyết chính trị - xã hội và tôn giáo cũng là nguồn tư liệu quý cho chúng tôi khi triển khai thực hiện đề tài. Tác giả Hoàng Tăng Cường trong bài viết “Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quan niệm của Nho giáo” [15] cung cấp cho người đọc các lập trường khác nhau của Nho giáo khi bàn về vấn đề này.
Tuy nhiên, chúng đều có chung một điểm là khẳng định con người có mối quan hệ mật thiết với “Trời”, con người phải hiểu được “Mệnh trời” và không thể làm trái với “Mệnh trời” [15, tr. Từ đó, tác giả khẳng định một lần nữa tư tưởng của Nho giáo khi xem xét mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, đó là sự phục tùng, phụ thuộc của con người vào giới tự nhiên. Có thể nói, quan điểm của Hòang Tăng Cường tỏ ra khá phiến diện, chỉ tiếp cận phương diện đạo đức siêu hình của Nho giáo mà không thấy được những đóng góp của Nho giáo trong việc nhìn nhận vai trò của giới tự nhiên với cuộc sống con người. Tiêu biểu như quan điểm của Mạnh Tử về không giết mổ vật nuôi vào mùa sinh sản, không dùng lưới mắt nhỏ để bắt cá thì mới đảm bảo được cuộc sống đầy đủ cho con người.
Như vậy, quan điểm của Mạnh Tử có ý nghĩa vượt thời gian khi ông nhìn nhận sự khai thác tự nhiên phải theo và phù hợp với quy luật của nó. Tác giả Nguyễn Văn Bình với bài “Cách xem xét, đánh giá con người thông qua các mối quan hệ xã hội cơ bản của Nho giáo - một giá trị cần kế thừa và phát triển” [6] đã nhận định:. ứng với mỗi quan hệ xã hội của con người, Nho giáo lại đưa ra những yêu cầu rất chi tiết, thiết thực, sao cho thái độ ứng xử của con người đạt tới “tận thiện, tận mỹ”, là khuôn vàng thước ngọc để mọi người noi theo và đánh giá lẫn nhau. Từ đó, Nho giáo đề cao những con người có giáo dục, biết tu dưỡng theo những người quân 9 tử suốt đời “chính tâm tu thân” để vươn lên làm chủ bản thân, ứng xử mẫu mực trong tất cả các mối quan hệ xã hội [6, tr.
Từ nhận định trên, tác giả nhấn mạnh đến ý nghĩa và giá trị của đạo đức Nho giáo trong việc giáo dục con người để trở thành mẫu “người quân tử”. Bài viết “Vấn đề con người trong đạo Phật” của tác giả Hoàng Thơ [103] khẳng định đạo Phật là một triết lý về con người hướng nội. Tác giả đã nêu rõ điểm tích cực của triết lý nhân sinh Phật giáo là con người nội tâm, vô thần, bình đẳng về đạo đức. Đạo Phật tập trung phân tích con người nhận thức, tâm lý hướng nội nên đã đạt được một số nhận định độc đáo về trực giác, về làm chủ tâm thức.
Tiếp cận hướng nội của đạo Phật là chỗ làm cho các triết học hướng ngoại tự thấy thiếu hòan chỉnh khi sự khát khao hiểu biết bản chất con người trở thành một nhu cầu có tính triết học [103, tr. Tác giả Đỗ Hương Giang trong bài “Vấn đề nhân sinh quan trong triết học Phật giáo thời Trần” [27] đã khái quát một số nội dung chính của các đại biểu tư tưởng triết học Phật giáo thời Trần. Về nguồn gốc và bản chất con người: trên quan điểm duyên sinh, các ông cho rằng con người do tứ đại, ngũ uẩn hợp thành nên bản chất con người là “Không”; vì nguồn gốc con người là không thực cho nên con người không thể thoát khỏi vòng sinh tử; quan niệm về cuộc sống: đời là khổ, ngắn ngủi, mong manh và luôn thay đổi; cuối cùng, các ông cho rằng tự do và giải thoát là tiêu chuẩn cho một cuộc sống lý tưởng [27, tr. Có thể nói, quan điểm của các đại biểu Phật giáo thời Trần thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam.
Các ông đã đưa đạo Phật đi vào cuộc đời, hành động và áp dụng giáo lý Phật giáo vì con người và cho con người. Nhìn chung, vấn đề nhân sinh quan trong các học thuyết tôn giáo chủ yếu nghiên cứu con người từ góc độ bản ngã, cái tôi, chủ thể, từ phương diện tâm lý học, đạo đức học, luân lý học. 10 Một trong những nhiệm vụ của luận án là khảo cứu đặc điểm nhân sinh quan thần thoại, vì thế chúng tôi thử đi tìm các tác phẩm bàn về vấn đề này, song, rất tiếc đây dường như là mảng nghiên cứu còn bỏ trống. Tìm hiểu qua các công trình viết về nhân sinh quan nói chung, chúng tôi cũng ít nhiều thu nhận được những tài liệu cho quá trình triển khai luận án.
Trong cuốn sách Mạn đàm nhân sinh của tác giả Nguyễn Thế Trắc [109], những vấn đề về nhân sinh quan như: mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân với kiếp người; Quan niệm về hoạ, phúc với đời người; Quan niệm tu thân tích đức, hòan thiện nhân cách. đã được trình bày khá rõ nét. Tác giả Nguyễn Thế Trắc rất tâm huyết khi phân tích và bình luận một cách sâu sắc những triết lý sống cần thiết cho con người hiện nay, cũng như hướng con người tới những chân giá trị của cuộc đời. Cuốn Hành trình nhân sinh quan: Phản tỉnh trên đường trải nghiệm của tác giả Nguyễn Tất Thịnh [94] đề cập đến nhiều vấn đề của cuộc sống nhằm chia sẻ những trải nghiệm sống, giúp người đọc tự tìm cho mình những bài học quý giá của nhân sinh, những kỹ năng sống, cách ứng xử chân - thiện - mỹ để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, luôn có cái nhìn lạc quan vào cuộc sống.
Hai nhà nghiên cứu Trịnh Hiểu Giang, Nguyễn An trong cuốn Những hiểu biết về cuộc đời [28] đã cung cấp cho người đọc trí tuệ phong phú của các nhà hiền triết trong lịch sử nhân loại về bản chất sinh mệnh, nội dung của đời người, trạng thái sinh tồn, các kỹ xảo cần thiết để có cuộc sống hạnh phúc. Đặc biệt, các tác giả đã đi sâu phân tích cuộc đời của các nhà hiền triết Trung Quốc thời xưa, từ đó, liên hệ đến các trạng thái đời người hiện đại, đồng thời, giới thiệu cho chúng ta về một môn khoa học tương đối phát triển ở Trung Quốc - khoa học nhân sinh.