Tổng quan luận án
Công trình Nhân sinh quan người Việt qua Folklore Việt Nam là luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Phùng Thị An Na, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), được bảo vệ năm 2015 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Nga và PGS.TS. Đỗ Lan Hiền.
Luận án xuất phát từ tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn: Folklore (văn hóa dân gian) Việt Nam là kho tư liệu tinh thần phong phú chứa đựng minh triết, năng lực nhận thức và tư duy bản nhiên của tiền nhân nhưng trong thời gian dài ít được khai thác chuyên sâu dưới góc độ triết học. Các ngành văn hóa học, dân tộc học, nhân học đã mô tả diện mạo sinh hoạt và tín ngưỡng nhưng chưa giải quyết triệt để câu hỏi cha ông xưa quan niệm thế nào về con người và cuộc sống. Việc tiếp cận liên ngành triết học - văn hóa là cần thiết để luận chứng cho sự hiện hữu của hệ thống tư tưởng triết học Việt Nam trong lịch sử.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình khảo cứu chuyên biệt, có hệ thống về nhân sinh quan người Việt qua Folklore từ lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nhằm bổ sung cho lịch sử tư tưởng dân tộc và phục vụ công tác xây dựng lối sống mới hiện nay.
Mục đích nghiên cứu: Làm rõ nhân sinh quan người Việt thể hiện qua Folklore Việt Nam, cụ thể là qua lễ hội và tín ngưỡng dân gian; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy các giá trị tích cực và khắc phục những hạn chế trong nhân sinh quan đó.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ khái niệm nhân sinh quan và đặc thù nhân sinh quan của người Việt; khái niệm, đặc trưng của Folklore Việt Nam.
- Phân tích nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian điển hình; chỉ ra những giá trị tích cực và những hạn chế trong nhân sinh quan đó.
- Dự báo xu hướng hoạt động của các lễ hội và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, khắc phục những hạn chế trong nhân sinh quan truyền thống người Việt qua các loại hình đó.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Khái niệm "người Việt" dùng để chỉ cộng đồng người Việt truyền thống. Luận án giới hạn khảo sát ở 02 loại hình Folklore tiêu biểu: lễ hội dân gian và tín ngưỡng dân gian. Trong đó, tác giả lựa chọn 03 lễ hội (lễ hội đền Gióng, lễ hội đền Tống Trân, lễ hội Chử Đồng Tử) và 03 tín ngưỡng (tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ nhiên thần) làm khách thể khảo sát nhằm phản ánh các triết lý nhân sinh trên ba mối quan hệ cơ bản: gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chuyên đề:
1. Nhóm công trình về nhân sinh quan và Folklore
- Về lý luận nhân sinh quan: Các công trình nghiên cứu quan điểm Mác - Lênin về con người của Bùi Bá Linh, Hoàng Đình Cúc, Phạm Thị Ngọc Trầm, Vũ Trọng Dung phân tích con người với tư cách thực thể sinh học - xã hội và tổng hòa các quan hệ xã hội. Các bài viết của Hồ Sỹ Quý, Phạm Thị Ngọc Trầm bàn về quan hệ giữa con người với tự nhiên và đạo đức sinh thái. Khía cạnh nhân sinh trong Nho giáo được khảo cứu qua Hoàng Tăng Cường, Nguyễn Văn Bình; trong Phật giáo qua Hoàng Thơ, Đỗ Hương Giang; các tập sách luận bàn nhân sinh của Nguyễn Thế Trắc, Nguyễn Tất Thịnh, Trịnh Hiểu Giang, Nguyễn An.
- Về văn hóa dân gian và Folklore Việt Nam: Các tác phẩm nền tảng của Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Nguyễn Duy Hinh (Văn minh Đại Việt), Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục); hệ thống công trình của Vũ Ngọc Khánh (Dẫn luận nghiên cứu Folklore Việt Nam, Tiếp cận kho tàng Folklore Việt Nam, Hành trình vào thế giới Folklore Việt Nam), Đinh Gia Khánh (Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian Việt Nam, Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam), Ngô Đức Thịnh (Quan niệm về Folklore), Lê Ngọc Canh, Nguyễn Xuân Kính phác họa diện mạo, đặc trưng và các thành tố của văn hóa dân gian.
2. Nhóm công trình về nhân sinh quan qua lễ hội và tín ngưỡng dân gian
- Về lễ hội dân gian: Công trình của Thuận Hải, Toan Ánh (Hội hè đình đám), Nguyễn Hải Yến, Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (Lễ hội dân gian trong đời sống xã hội hiện tại), Ngô Đức Thịnh, Lê Văn Kỳ (Lễ hội nông nghiệp Việt Nam), cùng các bài khảo cứu lễ hội của Lê Trung Vũ, Vũ Thị Hoa, Hà Lâm Kỳ, Trần Chí Quang, Ngô Văn Doanh, Hoàng Văn Páo làm rõ ý nghĩa, cấu trúc và chức năng cố kết cộng đồng của lễ hội.
- Về tín ngưỡng dân gian: Tác phẩm của Toan Ánh (Tín ngưỡng Việt Nam), Ngô Đức Thịnh (Đạo Mẫu Việt Nam, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam), Khai Đăng, Đinh Gia Khánh, Trần Quốc Vượng (Nguyên lý mẹ của nền văn hóa Việt Nam), Thích Nguyên Hiền, luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Thụ; nghiên cứu về phồn thực của Vũ Anh Tú, Lý Khắc Cung, Dương Đình Minh Sơn (Văn hóa nõ nường), Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Hậu, Bá Trung Phụ, Nguyễn Minh San; nghiên cứu về nhiên thần và thần linh của Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Duy Hinh (Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam), Vũ Ngọc Khánh (Đạo Thánh ở Việt Nam, Tứ bất tử đồng tác giả với Ngô Đức Thịnh), Tạ Chí Đại Trường, Lê Tâm Đắc, Trần Minh Hường, Nguyễn Việt Hùng.
3. Nhóm công trình về kế thừa, phát huy giá trị và hạn chế tiêu cực
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Kiệt, Phạm Bá Lượng, Trần Đình Hượu (Đến hiện đại từ truyền thống), Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang (Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay), Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý, Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, cùng các luận án tiến sĩ triết học của Võ Văn Thắng, Nguyễn Văn Lý, Cao Thu Hằng, Ngô Thị Thu Ngà làm rõ thực trạng và giải pháp chuyển hóa giá trị truyền thống trong xã hội hiện đại.
Bốn khoảng trống học thuật luận án lựa chọn giải quyết:
- Làm sâu sắc lý luận về nhân sinh quan và xác định rõ những đặc thù của nhân sinh quan người Việt trong lịch sử tư tưởng dân tộc.
- Khai thác nội dung nhân sinh quan ẩn chứa trong văn hóa dân gian từ góc nhìn triết học thay vì thuần túy mô tả văn hóa học.
- Hệ thống hóa có chọn lọc các biểu hiện của nhân sinh quan người Việt qua các lễ hội và tín ngưỡng dân gian điển hình theo các trục quan hệ gia đình, xã hội và tự nhiên.
- Đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ thực tiễn nghiệm sinh của Folklore nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tiêu cực trong việc xây dựng con người mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khung lý luận nền tảng: Luận án vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trọng tâm là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội và sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội; đồng thời quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng.
- Khái niệm công cụ: Tác giả xác định: "Nhân sinh quan là một phạm trù dùng để chỉ những quan niệm, quan điểm mang tính định hướng của con người về mối quan hệ của họ với gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên." Luận án phân tích cấu trúc nhân sinh quan qua 3 phương diện (mục đích nhân sinh, thái độ nhân sinh, giá trị nhân sinh) và 3 hình thức phát triển trong lịch sử (nhân sinh quan thần thoại, nhân sinh quan tôn giáo, nhân sinh quan triết học).
- Lý luận về Folklore: Tiếp cận Folklore theo nghĩa rộng là văn hóa dân gian, mang 3 đặc trưng cơ bản: tính nguyên hợp, tính tập thể và tính nghiệm sinh.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận chung: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Thống nhất lịch sử - lôgic; phân tích và tổng hợp; trừu tượng hóa và khái quát hóa; kết hợp lý luận với tổng kết thực tiễn.
- Kỹ thuật liên ngành: Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành triết học, văn hóa học, tôn giáo học, dân tộc học; sử dụng kỹ thuật khảo cứu văn bản thư tịch cổ, thần tích, truyền thuyết dân gian kết hợp quan sát thực địa tại các không gian diễn xướng lễ hội và cơ sở tín ngưỡng.
Nguồn tư liệu
Sử dụng các công trình nghiên cứu lý luận, các bộ sử thư, thần phả, địa chí, tài liệu điền dã dân tộc học, văn hóa học đã xuất bản cùng các tư liệu thực tế về các lễ hội (Đền Gióng, Đền Tống Trân, Chử Đồng Tử) và các thực hành tín ngưỡng dân gian (Thờ Mẫu, Phồn thực, Nhiên thần).
Nội dung chính theo từng chương
| Chương |
Tên chương |
Số trang |
Trọng tâm nghiên cứu |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án |
Trang 6 - 31 |
Đánh giá 3 nhóm công trình đi trước, xác lập 4 vấn đề luận án tiếp tục giải quyết |
| Chương 2 |
Nhân sinh quan người Việt và Folklore Việt Nam - Một số vấn đề lý luận |
Trang 32 - 64 |
Xây dựng khung khái niệm nhân sinh quan, 6 đặc thù nhân sinh quan Việt và 3 đặc trưng Folklore |
| Chương 3 |
Nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian - Giá trị và hạn chế |
Trang 65 - 114 |
Phân tích 3 lễ hội, 3 tín ngưỡng điển hình; chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của nhân sinh quan truyền thống |
| Chương 4 |
Xu hướng hoạt động của lễ hội và tín ngưỡng dân gian và giải pháp nhằm khắc phục yếu tố tiêu cực, phát huy giá trị tích cực trong nhân sinh quan truyền thống người Việt qua các loại hình đó |
Trang 115 - 144 |
Dự báo xu hướng biến đổi đương đại và đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn |
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu về nhân sinh quan mác-xít, nhân sinh quan tôn giáo, các lý thuyết về Folklore học, các khảo cứu chuyên biệt về lễ hội, tín ngưỡng và vấn đề kế thừa giá trị truyền thống. Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình chỉ tiếp cận dưới góc độ mô tả phong tục hoặc nghiên cứu văn hóa học thuần túy, chưa có công trình nào giải mã nhân sinh quan người Việt qua Folklore dưới góc nhìn triết học một cách có hệ thống. Từ đó, chương 1 xác định rõ 4 vấn đề học thuật làm mục tiêu cho luận án.
Chương 2: Nhân sinh quan người Việt và Folklore Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
Nội dung chương tập trung xác lập cơ sở lý luận về nhân sinh quan và Folklore, gồm các luận điểm chính:
- Bản chất và cấu trúc nhân sinh quan: Phân tích sự tiến hóa của nhân sinh quan từ thần thoại (nhận thức cảm tính, pha trộn hư thực qua các truyện sáng tạo loài người, Prometheus, Nữ Oa, Lạc Long Quân - Âu Cơ), tôn giáo (lấy niềm tin siêu nhiên làm trọng tâm, định hướng đạo đức), đến triết học (khái quát hóa lý tính, định hướng hành động cải tạo thế giới). Xác định nhân sinh quan giữ chức năng định hướng quan trọng nhất cho hoạt động sống của con người.
- Sáu đặc thù của nhân sinh quan người Việt:
- Gắn chặt với vận mệnh dân tộc, lấy chủ nghĩa yêu nước làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử chống ngoại xâm.
- Gắn liền với điều kiện sinh tồn nông nghiệp lúa nước, làng xã và người nông dân, hình thành lối sống hòa hợp, tôn trọng và sùng bái tự nhiên.
- Là mẫu số chung của phép cộng triết lý nhân sinh các tộc người trong quá trình cộng cư, với dòng chủ lưu là văn hóa Việt/Kinh.
- Được biểu đạt song song qua hai dòng: văn hóa dân gian (Folklore) và văn hóa bác học (Academic), có sự thẩm thấu lẫn nhau.
- Đề cao thái độ trọng nghĩa - tình, lòng nhân ái, thủy chung và đạo lý cộng đồng xóm làng.
- Có tính bao dung, dung hợp các hệ tư tưởng Nho - Phật - Đạo và văn hóa ngoại sinh trên nền tảng bản địa.
- Đặc trưng của Folklore Việt Nam: Khẳng định 3 thuộc tính cơ bản là tính nguyên hợp (chứa đựng mầm mống tri thức đa ngành chưa phân hóa), tính tập thể (sáng tạo và lưu truyền qua cộng đồng) và tính nghiệm sinh (đúc kết từ thực tiễn sinh tồn). Folklore đóng vai trò là phương thức biểu đạt trực quan, sống động của nhân sinh quan người Việt.
Chương 3: Nhân sinh quan người Việt qua một số lễ hội và tín ngưỡng dân gian - Giá trị và hạn chế
Chương 3 đi sâu khảo sát 6 khách thể cụ thể nhằm phân tích các khía cạnh nhân sinh quan:
- Qua 3 lễ hội dân gian:
- Lễ hội đền Gióng: Biểu hiện triết lý yêu nước, tinh thần chống ngoại xâm bảo vệ cộng đồng, lý tưởng xả thân vì độc lập dân tộc và trách nhiệm xã hội của cá nhân.
- Lễ hội đền Tống Trân: Phản ánh quan niệm về đạo nghĩa vợ chồng thủy chung, truyền thống hiếu học, ý chí vượt khó và các chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống.
- Lễ hội Chử Đồng Tử: Phản ánh triết lý bình đẳng trong tình yêu - hôn nhân, đạo hiếu, khát vọng phát triển sản xuất, giao thương buôn bán và tinh thần cứu nhân độ thế.
- Qua 3 tín ngưỡng dân gian:
- Tín ngưỡng thờ Mẫu: Thể hiện nguyên lý Mẹ, đề cao vai trò tính nữ, hướng tới sự che chở, cầu mong sức khỏe, tài lộc và hạnh phúc thiết thực trong đời sống trần thế.
- Tín ngưỡng phồn thực: Biểu hiện khát vọng sinh sôi nảy nở của con người và mùa màng qua biểu tượng nõ nường, các hành vi phối ngẫu mang tính thiêng, phản ánh nhận thức duy vật chất phác về nguồn gốc sự sống.
- Tín ngưỡng thờ nhiên thần: Thể hiện thái độ tôn kính, kính sợ và ứng xử hài hòa với các lực lượng tự nhiên (sơn thần, thủy thần, đá, cây, rắn), khẳng định quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống.
- Giá trị và hạn chế của nhân sinh quan truyền thống:
- Giá trị tích cực: Tinh thần yêu nước nồng nàn; tính cố kết cộng đồng bền chặt; lòng nhân ái, bao dung, trọng tình nghĩa; lối sống hòa đồng với thiên nhiên và thái độ lạc quan.
- Hạn chế: Tâm lý duy tình lấn át duy lý; thói quen tùy tiện, gia trưởng, cào bằng của tư tưởng tiểu nông; sự phụ thuộc vào tâm linh siêu nhiên dẫn đến mê tín dị đoan và tư duy thụ động trước tự nhiên và xã hội.
Chương 4: Xu hướng hoạt động của lễ hội và tín ngưỡng dân gian và giải pháp nhằm khắc phục yếu tố tiêu cực, phát huy giá trị tích cực trong nhân sinh quan truyền thống người Việt qua các loại hình đó
- Dự báo các xu hướng biến đổi: Xu hướng phục hồi mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu tâm linh; xu hướng thương mại hóa và phàm tục hóa các không gian thiêng; xu hướng biến tướng mê tín dị đoan và lai căng văn hóa; xu hướng hội nhập và biến đổi chức năng xã hội của lễ hội, tín ngưỡng trong nền kinh tế thị trường.
- Các nhóm giải pháp đề xuất:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị đích thực của di sản văn hóa dân gian.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội và tín ngưỡng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
- Phát huy vai trò chủ thể văn hóa của nhân dân, tôn trọng quyền tự quản và thực hành văn hóa của cộng đồng địa phương.
- Kết hợp bảo tồn giá trị nhân sinh truyền thống với xây dựng chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về lý luận:
- Bổ sung cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng và triết học Việt Nam trên đối tượng văn hóa dân gian (Folklore), khẳng định Folklore là nguồn tư liệu phản ánh các mầm mống triết học và năng lực tư duy bản nhiên của người Việt trước khi tiếp biến các học thuyết ngoại lai.
- Làm sáng tỏ khái niệm, cấu trúc và xác định 6 đặc thù cơ bản của nhân sinh quan người Việt trong mối quan hệ với gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên.
- Về thực tiễn:
- Phân tích thực trạng và dự báo các xu hướng vận động phức tạp của lễ hội, tín ngưỡng dân gian trong bối cảnh xã hội chuyển đổi.
- Đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp có căn cứ khoa học nhằm định hướng quản lý văn hóa, loại bỏ các biểu hiện tiêu cực (mê tín dị đoan, thương mại hóa), đồng thời kế thừa các giá trị nhân văn truyền thống để xây dựng lối sống và phát triển tư duy lý luận cho con người Việt Nam hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án mới chỉ tập trung khảo sát 02 loại hình Folklore là lễ hội dân gian và tín ngưỡng dân gian thông qua 6 trường hợp cụ thể (3 lễ hội, 3 tín ngưỡng), chủ yếu gắn với địa bàn châu thổ Bắc Bộ và cư dân nông nghiệp người Việt truyền thống; chưa bao quát toàn diện các loại hình Folklore khác như Folklore ngôn từ (ca dao, tục ngữ, truyện cổ) hay nghệ thuật diễn xướng dân gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại văn học dân gian và nghệ thuật tạo hình dân gian; khảo sát nhân sinh quan qua Folklore của các dân tộc thiểu số khác tại các vùng văn hóa Tây Bắc, Tây Nguyên và Nam Bộ; nghiên cứu sự biến đổi nhân sinh quan của người Việt trong kỷ nguyên kinh tế số và toàn cầu hóa sâu rộng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Triết học (Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử, Lịch sử triết học), Văn hóa học, Tôn giáo học, Dân tộc học và Xã hội học.
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ quản lý văn hóa, các cơ quan ban ngành phụ trách công tác tư tưởng, tôn giáo và văn hóa truyền thống của Đảng và Nhà nước.
- Phần nội dung giá trị: Chương 2 cung cấp khung lý luận về đặc thù tư duy và nhân sinh quan bản địa; Chương 3 cung cấp tư liệu phân tích thực hành lễ hội và tín ngưỡng dưới góc độ triết học; Chương 4 cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quản lý di sản và định hướng giá trị đạo đức xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa nhân sinh quan như thế nào?
Luận án xác định: Nhân sinh quan là một phạm trù dùng để chỉ những quan niệm, quan điểm mang tính định hướng của con người về mối quan hệ của họ với gia đình, xã hội và môi trường tự nhiên. Cấu trúc của nhân sinh quan gồm ba phương diện: mục đích nhân sinh, thái độ nhân sinh và giá trị nhân sinh.
2. Sáu đặc điểm đặc thù của nhân sinh quan người Việt được tác giả khái quát là gì?
Tác giả xác định 6 đặc thù: (1) Gắn chặt với vận mệnh dân tộc, lấy tinh thần yêu nước làm cốt lõi; (2) Gắn liền với điều kiện sinh tồn nông nghiệp lúa nước, làng xã và con người nông dân, tạo nên lối sống hòa hợp với tự nhiên; (3) Là mẫu số chung của các triết lý nhân sinh tộc người với trục chủ lưu là văn hóa Việt/Kinh; (4) Được biểu đạt qua hai dòng văn hóa dân gian và văn hóa bác học; (5) Đề cao thái độ trọng nghĩa - tình, thủy chung, nhân ái; (6) Có tính bao dung, dung hợp các luồng tư tưởng Nho - Phật - Đạo và văn hóa ngoại sinh.
3. Những lễ hội và tín ngưỡng dân gian nào được chọn khảo sát và phục vụ mục tiêu gì?
Luận án khảo sát 03 lễ hội (đền Gióng, đền Tống Trân, Chử Đồng Tử) và 03 tín ngưỡng (thờ Mẫu, phồn thực, thờ nhiên thần). Việc lựa chọn này nhằm phản ánh một cách tương đối toàn diện triết lý nhân sinh truyền thống trên 3 trục quan hệ căn bản: quan hệ gia đình (Tống Trân, Chử Đồng Tử), quan hệ xã hội (Gióng, thờ Mẫu, phồn thực) và quan hệ với môi trường tự nhiên (Chử Đồng Tử, thờ nhiên thần, phồn thực).
4. Ba đặc trưng cơ bản nào của Folklore được luận án sử dụng để phân tích nhân sinh quan?
Ba đặc trưng là: (1) Tính nguyên hợp: Sự hòa lẫn các hình thái ý thức xã hội (tri thức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học) phản ánh trình độ nhận thức thời kỳ đầu; (2) Tính tập thể: Sự sáng tạo, bảo lưu và tái tạo qua ký ức và sinh hoạt của cả cộng đồng; (3) Tính nghiệm sinh: Sự đúc kết trực tiếp từ kinh nghiệm lao động và sinh tồn thực tiễn của nhân dân.
5. Những giải pháp chủ yếu nào được đề xuất ở Chương 4?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị văn hóa dân gian; (2) Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với lễ hội, tín ngưỡng; (3) Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hành văn hóa; (4) Gắn kết bảo tồn giá trị truyền thống với xây dựng chuẩn mực giá trị và lối sống mới cho con người Việt Nam.
Kết luận
Luận án Nhân sinh quan người Việt qua Folklore Việt Nam của tác giả Phùng Thị An Na là công trình nghiên cứu triết học có hệ thống về tư tưởng nhân sinh bản địa ẩn chứa trong văn hóa dân gian truyền thống. Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, công trình đã làm sáng tỏ 6 đặc thù nhân sinh quan của người Việt qua việc giải mã 3 lễ hội và 3 tín ngưỡng dân gian điển hình trên các mối quan hệ với gia đình, xã hội và tự nhiên. Kết quả nghiên cứu khẳng định các giá trị tích cực cần kế thừa như chủ nghĩa yêu nước, lòng nhân ái, lối sống hòa hợp tự nhiên, đồng thời chỉ ra những hạn chế tâm lý tiểu nông cần khắc phục. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho chuyên ngành Triết học và đóng góp cơ sở lý luận thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa và phát triển con người Việt Nam hiện nay.