Luận Án Tiến Sĩ Về Nguyễn Đình Chiểu Trong Không Gian Văn Hóa Nam Bộ

Luận án tiến sĩ phân tích nguyễn đình chiểu trong không gian văn hóa nam bộ001, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

220
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do lựa chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Giới thiệu hướng tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu

1.1.1. Hướng tiếp cận địa văn hóa

2. CHƯƠNG 2: CÁC LỚP TRẦM TÍCH CỦA BA CHỦ THỂ CHÍNH KHMER, VIỆT, HOA TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỶ XVII ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX

2.1. Khái quát về không gian địa lý Nam Bộ. Các lớp trầm tích văn hóa của ba chủ thể chính Khmer, Việt, Hoa

2.2. Lớp văn hóa của người Khmer

2.3. Lớp văn hóa của người Việt: nhóm người theo đạo Thiên Chúa và nhóm người không theo đạo Thiên Chúa

2.4. Lớp văn hóa của người Hoa

2.5. Hệ thống nhân vật tiêu biểu, nghi lễ và giá trị trong không gian văn hóa Nam Bộ thế kỷ XIX

2.5.1. Hệ thống nhân vật tiêu biểu trong văn hóa Nam Bộ

2.5.2. Hệ thống nghi lễ trong văn hóa Nam Bộ

2.5.3. Những giá trị văn hóa Nam Bộ tiêu biểu

3. CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG TỪ KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ TỚI SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

3.1. Ảnh hưởng của Nho giáo ở Nam Bộ trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

3.2. Tư tưởng “chính khí” trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

3.3. Những biểu hiện “lệch chuẩn” của Nho giáo Nam Bộ trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

3.4. Tư tưởng bài Phật giáo, bài Thiên Chúa giáo và cự tuyệt văn minh phương Tây trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu

3.5. Ảnh hưởng của các tín ngưỡng - tôn giáo và nghi lễ của văn hóa Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

3.6. Ảnh hưởng của triết lý âm - dương ngũ hành và tín ngưỡng thờ Huyền Thiên Thượng Đế

3.7. Ảnh hưởng của quan niệm về âm chất - âm công

3.8. Ảnh hưởng của các giá trị Nho giáo và bình dân trong văn hóa Nam Bộ tới sự xây dựng các kiểu mẫu nhân cách lý tưởng trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

3.8.1. Lục Vân Tiên - kiểu mẫu nhân cách quân tử đặc sắc Nam Bộ

3.8.2. Kiều Nguyệt Nga - kiểu mẫu nhân cách liệt nữ

3.8.3. Kỳ Nhân Sư - kiểu mẫu nhân cách ẩn sĩ

3.8.4. Trương Định, Phan Tòng - các gương anh hùng kháng chiến

3.8.5. Người nghĩa binh nông dân - tập thể anh hùng vô danh

3.9. Ảnh hưởng của các thành tựu văn học - nghệ thuật Việt, Hoa trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

3.9.1. Ảnh hưởng của tiểu thuyết Minh-Thanh

3.9.2. Ảnh hưởng của truyện thơ Nôm

3.9.3. Ảnh hưởng của tuồng

4. CHƯƠNG 4: ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU TỚI KHÔNG GIAN VĂN HÓA NAM BỘ

4.1. Nguyễn Đình Chiểu - một nhân cách truyền cảm hứng lớn lao

4.1.1. Con người không khuất lụy nghịch cảnh

4.1.2. Bậc thầy đáng kính của người dân Nam Bộ

4.1.3. Kẻ sĩ bất khuất, trung thành với lý tưởng

4.2. Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ

4.2.1. Nguyễn Đình Chiểu - người truyền bá những tư tưởng Nho giáo chính thống từ không gian văn hóa Huế vào không gian văn hóa Nam Bộ

4.2.2. Khảo sát trường hợp: ảnh hưởng của Lục Vân Tiên - tiếp nhận thuận chiều và “phản tiếp nhận”

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu Trong Văn Hóa Nam Bộ

Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ là một lĩnh vực phong phú và đa dạng. Ông không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng mà còn là một nhân cách văn hóa có tầm ảnh hưởng lớn. Tác phẩm của ông phản ánh những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất này, từ đó tạo nên một bức tranh sinh động về đời sống văn hóa và xã hội của người dân Nam Bộ trong thế kỷ XIX.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu

Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu đã trải qua nhiều giai đoạn, từ những bài viết ngắn gọn đến các công trình nghiên cứu sâu sắc. Các tác giả đã tập trung vào những khía cạnh khác nhau của cuộc đời và sự nghiệp của ông, từ tư tưởng đến phong cách sáng tác.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Văn Hóa Nam Bộ

Văn hóa Nam Bộ là một không gian văn hóa đa dạng, nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Nguyễn Đình Chiểu đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa này thông qua các tác phẩm của mình, phản ánh những giá trị và đặc trưng của vùng đất.

II. Những Thách Thức Trong Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu

Việc nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ không chỉ đơn thuần là phân tích tác phẩm mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Những thách thức này bao gồm việc xác định các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sáng tác của ông và cách mà ông đã phản ánh những yếu tố đó trong tác phẩm.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Tác Phẩm

Nhiều tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đã bị thất lạc hoặc không được ghi chép đầy đủ, gây khó khăn trong việc xác định và phân tích nội dung cũng như giá trị của chúng.

2.2. Ảnh Hưởng Của Các Yếu Tố Văn Hóa

Các yếu tố văn hóa như Nho giáo, Phật giáo, và các tín ngưỡng dân gian đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng và phong cách sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Việc phân tích những ảnh hưởng này là một thách thức lớn trong nghiên cứu.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu Trong Văn Hóa Nam Bộ

Để nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ phân tích văn bản đến khảo sát lịch sử văn hóa. Những phương pháp này giúp làm rõ mối quan hệ giữa nhân cách và tác phẩm của ông với văn hóa Nam Bộ.

3.1. Phân Tích Văn Bản

Phân tích văn bản là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu. Qua việc phân tích các tác phẩm, có thể nhận diện được các giá trị văn hóa và tư tưởng mà ông muốn truyền tải.

3.2. Khảo Sát Lịch Sử Văn Hóa

Khảo sát lịch sử văn hóa giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa mà Nguyễn Đình Chiểu sống và sáng tác. Điều này cung cấp cái nhìn sâu sắc về những ảnh hưởng từ môi trường xung quanh đến tác phẩm của ông.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu

Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể ứng dụng trong thực tiễn. Các giá trị văn hóa mà ông truyền tải có thể được áp dụng trong giáo dục và bảo tồn di sản văn hóa.

4.1. Giáo Dục Văn Hóa

Việc đưa các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu vào chương trình giảng dạy có thể giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa Nam Bộ và những giá trị văn hóa truyền thống.

4.2. Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa

Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu cũng góp phần vào công tác bảo tồn di sản văn hóa, giúp gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của vùng đất Nam Bộ.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Nguyễn Đình Chiểu

Nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ là một lĩnh vực quan trọng, giúp làm sáng tỏ những giá trị văn hóa và tư tưởng của ông. Những đóng góp của ông không chỉ có ý nghĩa trong văn học mà còn trong việc hình thành bản sắc văn hóa của người dân Nam Bộ.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Nguyễn Đình Chiểu

Ông là một trong những nhân vật văn hóa tiêu biểu của Nam Bộ, với những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa và tinh thần của người dân nơi đây.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Nguyễn Đình Chiểu và những ảnh hưởng của ông đến văn hóa Nam Bộ, từ đó phát triển các phương pháp nghiên cứu mới và ứng dụng thực tiễn.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nguyễn đình chiểu trong không gian văn hóa nam bộ001

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuộc xâm lược và công cuộc khai thác thuộc địa một lần nữa làm biến đổi toàn bộ vùng đất Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ XIX. Văn hóa do con người tạo ra nên không nhất thành bất biến mà liên tục thay đổi trong không gian và theo thời gian. Đó là sự thay đổi dựa trên chứ không phải là đoạn tuyệt với văn hóa của quá khứ. Williams đã vận dụng mô hình không - thời gian do Michel Foucault đề xuất trong Khảo cổ học về tri thức (Archeology of Knowledge) để lý giải những động năng của không gian văn hóa như trong Bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1: Sự trầm tích của không gian văn hóa Thời gian tuyến tính Thời gian trầm tích Thời gian được căn cứ vào sự chuyểnThời gian được tri nhận qua những vỉa động trong không gian.

tầng của không gian văn hóa. Hiện tại lồng trong quá khứ; tương lai lồng trong hiện tại. Không gian không thay đổi, chỉ có thờiCả không gian và thời gian thay đổi và gian thay đổi. được thể hiện theo các vỉa tầng dọc.

Có thể có bốn mô hình thời gian tuyến Thời gian gắn với không gian văn hóa. Trong hai mô hình, thời gian Hiện tại lồng trong quá khứ, tương chuyển động trong không gian (tương lai lồng trong hiện tại, quá khứ - hiện lai tiếp cận hiện tại); trong hai mô hình tại đồng hiện diện. còn lại, con người chuyển động trong không gian, còn thời gian vẫn đứng yên (trong đó có một mô hình hiện tại tiếp cận tương lai). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quá khứ Hiện tại Tương lai Thời gian tuyến tính: vận động theo Thời gian khảo cổ học: sự lắng đọng tuyến tính trong không gian.

của các lớp không gian qua thời gian. Không gian không thay đổi, chỉ thời Không gian thay đổi theo thời gian; gian thay đổi. cả thời gian và không gian đều trải qua sự thay đổi. Thome Williams 2008] Foucault mô tả không gian văn hóa bao gồm các lớp không gian tích tụ lại qua thời gian, kết quả là một không gian bao gồm nhiều tầng vỉa mà ông gọi là các lớp trầm tích.

Các lớp trầm tích này không bao giờ “hóa thạch” mà có thể bị khuấy lên bất cứ lúc nào do những đổi thay hay biến động trong không gian văn hóa. Theo mô hình này, thời gian được lồng (embeded) vào không gian, hiện tại lồng trong quá khứ, tương lai lồng trong hiện tại. Nó khác với mô hình thời gian tuyến tính theo quan niệm truyền thống. Thome Williams phát triển mô hình không - thời gian này chi tiết hơn nữa khi mô tả thời gian như là sự tích lũy các tầng lớp tập quán xã hội trong không gian văn hóa.

Theo quan điểm của các tác giả trên, sở dĩ người ta có thể hiểu được hiện tại là bởi nó bắt nguồn từ quá khứ, được chuẩn bị sẵn từ trong quá khứ; những nghi thức, những kịch bản xã hội và những tập tục chi phối sự tương tác giữa người với người trong cuộc sống hằng ngày đã có từ trước; hiện tại và quá khứ gặp gỡ nhau và đồng-hiện diện (co-present); quá khứ không bao giờ chết đi, nó chỉ được định nghĩa lại, sửa đổi, hoặc làm mới để phù hợp với hiện tại (R. Điều này lý giải cho sự tồn tại bền bỉ của những quan niệm giá trị hay thành tố văn hóa trong một không gian văn hóa. Tiến thêm một bước nữa, Joel Bonnemaison lý giải về các không gian văn hóa được tái tạo bởi các cộng đồng dân nhập cư (immigrant). Theo ông, khi không gian sống thay đổi thì những giá trị văn hóa mà con người mang theo từ không gian văn hóa cũ cũng sẽ phải thay đổi theo, nhưng chúng sẽ không hoàn toàn biến mất, ít ra là trong thế hệ di cư đầu tiên.

Joel Bonnemaison nhận định rằng, trong các cuộc di cư của con người, “Lối sống của các nền văn hóa khác xâm nhập vào 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các không gian văn hóa ở những khu vực mà một cộng đồng di cư tới trong hiện tại. Đồng hiện diện lúc này không chỉ là sự pha trộn giữa văn hóa cũ và văn hóa mới, mà còn là các nền văn hóa khác nhau pha trộn với nhau” (Joel Bonnemaison 2005: 10). Mặt khác, những người được đưa tới các nền văn hóa mới thường đem theo những giá trị và tập quán của họ ở không gian văn hóa cũ (Joel Bonnemaison 2005: 10). Sự lưu luyến căn tính cũ và nguyện vọng phục dựng không gian văn hóa quê hương của một số cộng đồng có ý thức bản sắc cao, điển hình như cộng đồng người Hoa, người Ý, người Mễ, người Việt.

trên đất Mỹ, có căn nguyên bởi “không gian văn hóa là một không gian mang tính biểu tượng chứa đầy cảm xúc và ý nghĩa, và ở dạng biểu hiện mạnh nhất, nó trở nên giống với một vùng đất thánh” (Joel Bonnemaison 2005: 47). Sự lý giải này có thể áp dụng cho cộng đồng người Hoa gốc Hoa Nam, vốn là những di thần nhà Minh có tư tưởng “bài Mãn phục Minh” và cộng đồng người Việt từ miền Bắc và miền Trung di cư tới Nam Bộ trong các thế kỷ XVII-XVIII. Nhìn sâu vào căn tính văn hóa cá nhân (personal cultural identity) của những nhóm dân di cư này, theo Rubén G. Rumbaut, do “bị đặt vào cùng lúc hai thế giới văn hóa, họ phải tự định nghĩa bản thân trong mối tương quan với các nhóm cư dân được tham chiếu tới khác (nhiều khi là không cùng tổ quốc/quê hương bản quán và ngôn ngữ mẹ đẻ với họ)” (Rumbaut 2005: 304).

Trong quá trình xây dựng căn tính mới, họ đụng độ, tiếp nhận, thích nghi, đồng hóa rất nhiều quy ước, giá trị và kỳ vọng của những nhóm khác. Kết quả của quá trình này là một căn tính “lai ghép” (hybrid identity) chịu ảnh hưởng của những nền tảng kinh tế - xã hội của cả văn hóa gốc lẫn văn hóa nơi họ đang sinh sống (Rumbaut: 2001). Những quan điểm nói trên sẽ được chúng tôi vận dụng để nghiên cứu hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu - một nhà nho Việt có trải nghiệm văn hóa ở cả miền Trung quê cha (Huế) lẫn Nam Bộ quê mẹ (Gia Định) và sáng tạo văn học trong không gian văn hóa Nam Bộ suốt quãng đời thăng trầm trải dài hơn nửa thế kỷ. Khái niệm “không gian văn hóa” (cultural space) và khái niệm “vùng văn hóa” (cultural area), theo Damien Ehrhardt, được phân biệt bởi chính các khái niệm “không gian” và “vùng” như trong bảng sau: Bảng 1.

Sự phân biệt khái niệm “vùng” và khái niệm “không gian” Vùng Không gian Hai chiều Ba chiều hoặc nhiều hơn Hạn định, có phân giới Không hạn định, không có đường biên xác định 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có nhiều Thống nhất Ổn định Biến thiên Khép kín Mở [Nguồn: Damien Ehrhardt 2015: 2] Trong các thế kỷ XVII-XIX, “không gian văn hóa Nam Bộ” vẫn hoàn toàn nằm trong “vùng văn hóa Nam Bộ” chứ chưa vươn sang các khu vực khác (như thời kỳ sau 1975), do vậy, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của mình trong luận án này - “không gian văn hóa Nam Bộ” - là một “tập con” của “vùng văn hóa Nam Bộ”, nghiêng nhiều về phương diện văn hóa tinh thần. Những điều kiện tự nhiên và xã hội cùng lịch sử của vùng văn hóa này sẽ được đề cập đến ở những nét khái lược và hữu quan với đề tài của luận án. Những thành tố văn hóa vật chất cũng sẽ được mô tả chọn lọc, chủ yếu để làm rõ vai trò của chúng với sự hình thành các thành tố văn hóa tinh thần của người dân Nam Bộ. Các phƣơng pháp nghiên cứu Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa Trong luận án này, chúng tôi vận dụng các quan điểm ký hiệu học văn hóa của Geertz Clifford xem “văn hóa là những mạng lưới và phân tích chúng không phải là việc của khoa học thực nghiệm mà của khoa học chú giải đi tìm nghĩa (meaning)” (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 16-17), kết hợp với quan điểm của Gerrt Hofstede xem các thành tố của văn hóa như các lớp vỏ củ hành: lớp ngoài cùng là biểu tượng (sự vật có tính vật chất mang chức năng biểu hiện một tư tưởng, một ý nghĩa trừu tượng, ví dụ như những cặp biểu tượng hoa-bướm, bến- thuyền, cọc-trâu.

biểu thị cho vai trò chủ động của người nam và thụ động của người nữ trong tình yêu), lớp tiếp theo là các nhân vật tiêu biểu (là những con người có những phẩm chất được một nền văn hóa đánh giá cao, do đó đóng vai trò như hình mẫu cho hành vi, ví dụ như những tướng lĩnh Nhật thời Phát-xít bị thế giới xem là tội phạm chiến tranh nhưng lại được tôn thờ như những anh hùng hy sinh vì nước tại Nhật Bản), lớp thứ ba là nghi lễ (những hành vi, cử chỉ, trang phục, ngôn từ, vẻ mặt. được quy ước và chi phối quan hệ tương tác giữa người với người, ví dụ như quy ước “nam ngoại nữ nội”, quy tắc “nam nữ thụ thụ bất thân”) và lớp cốt lõi là quan niệm về giá trị (sự phân biệt, đề cao, lựa chọn giữa yếu tố này với yếu tố khác, đặc điểm này với đặc điểm kia) (dẫn theo Trần Nho Thìn 2017: 17) ví dụ như các quan điểm “trọng thương” và “trọng nông”… để 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khảo sát và hệ thống hóa các biểu tượng, nhân vật, nghi lễ và giá trị của văn hóa Nam Bộ ảnh hưởng tới sự hình thành nhân cách và sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội Nghiên cứu lịch sử xã hội (social study) vốn là một lĩnh vực thuộc sử học, nghiên cứu các kinh nghiệm sống trong quá khứ của một xã hội nào đó, bao gồm: đời sống thường nhật, văn hóa vật chất, phong tục tập quán và các quan niệm luân lý. Lĩnh vực này phát triển mạnh vào thập niên 1960-1970 và hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến trong các khoa nghiên cứu lịch sử tại Anh, Canada, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.

Hướng tiếp cận và lý giải các hiện tượng văn học từ góc độ lịch sử xã hội (social study of literature) bắt đầu rộ lên vào những năm 1970 và đầu những năm 1980.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ