Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ của nghiên cứu sinh Tạ Thị Thanh Huyền được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Nho Thìn, bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nguyễn Đình Chiểu là tác gia trung đại đầu tiên của vùng đất Nam Bộ và của cả Việt Nam có toàn bộ sự nghiệp sáng tác hướng tới công chúng đại chúng. Hơn một thế kỷ qua, danh mục tư liệu và bài viết về ông đạt xấp xỉ 700 công trình. Tuy nhiên, phần lớn các công trình trước đây có dung lượng nhỏ, tập trung giải quyết các vấn đề đơn lẻ, hoặc tiếp cận theo hướng thi pháp học thuần túy (như công trình của Nguyễn Phong Nam), hay khảo sát lịch sử tiếp nhận trong giới hạn nghệ thuật (như công trình của Lê Văn Hỷ). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình nào tiến hành khảo sát, phân tích toàn diện mối quan hệ tương tác hai chiều giữa nhân cách, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu với môi trường văn hóa Nam Bộ – nơi nuôi dưỡng tài năng văn chương của ông, cung cấp chất liệu sáng tác và ngược lại cũng chịu sự tác động sâu sắc từ chính các giá trị mà ông tạo dựng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là đặt Nguyễn Đình Chiểu và các sáng tác của ông vào hệ tọa độ không gian văn hóa Nam Bộ để nhận diện các thành tố văn hóa tác động đến sự hình thành nhân cách và văn chương của tác giả, đồng thời phân tích ảnh hưởng ở chiều ngược lại từ phía ông đối với văn hóa Nam Bộ.

Để hoàn thành mục đích đó, luận án xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Xác định vị trí, tầm ảnh hưởng của các chủ thể văn hóa và các lớp trầm tích văn hóa mà các chủ thể này tạo ra trong quá trình cộng cư trên vùng đất Nam Bộ, từ đó rút ra hệ thống biểu tượng, nghi lễ, giá trị chiếm ưu thế trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.
  2. Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu để xác định các nhân vật và hệ giá trị của lớp trầm tích văn hóa nào hiện diện trong đó; phân tích cách tác giả sử dụng, cải biến các nhân vật và hệ giá trị đó cho phù hợp với nhãn quan Nho giáo của ông; liên hệ với bối cảnh thời đại cùng các tác giả, tác phẩm khác có liên quan để lý giải nguyên nhân của sự lựa chọn.
  3. Khảo sát các giai thoại về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu để rút ra nhận định chính xác về ông như một nhân cách văn hóa kiểu mẫu và truyền cảm hứng của vùng đất Nam Bộ.
  4. Khảo sát sự tiếp nhận đối với các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong ca dao, dân ca Nam Bộ và Nam Trung Bộ, trong sáng tác của các tác giả văn học miền Nam đầu thế kỷ XX theo hai xu hướng: tiếp nhận và phản tiếp nhận.
  5. Khảo sát các giai thoại về những tấm gương anh hùng nghĩa hiệp ngoài đời thực để làm rõ mức độ nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu trở thành mẫu hình nam nhân lý tưởng đối với người dân Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành, tầm ảnh hưởng của nhân cách và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ.
  • Phạm vi không gian: Vùng đất Nam Bộ với trung tâm lịch sử là vùng Gia Định – Đồng Nai.
  • Phạm vi thời gian: Tiến trình lịch sử - văn hóa từ đầu thế kỷ XVII (khi các dòng lưu dân người Việt và người Hoa bắt đầu định cư) đến đầu thế kỷ XX (giai đoạn giao thời hiện đại hóa, Âu hóa).
  • Tư liệu khảo sát: Văn bản tác phẩm trích dẫn từ bộ Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (2 tập) do Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải (NXB Văn học, 1997); các tư liệu tiểu sử, giai thoại trích từ Nguyễn Đình Chiểu - về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn (NXB Giáo dục, 2001) và Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời do Thạch Phương chủ biên (Ty Văn hóa và Thông tin Bến Tre, 1982).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu qua các khuynh hướng chính:

Hướng tiếp cận Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung học thuật chính đã triển khai
Tiểu sử tác giả Mai Huỳnh Hoa (Tiểu sử cụ Đồ Chiểu), Phan Văn Hùm (Nỗi lòng Đồ Chiểu), Nguyễn Thạch Giang (Nguyễn Đình Chiểu - thân thế và sự nghiệp). Xác lập các sự kiện tiểu sử, gia thế, bối cảnh sinh sống của nhà thơ tại Gia Định và Bến Tre.
Lịch sử tư tưởng và đạo đức học (1954–1986) Phạm Văn Đồng, Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Đổng Chi, Phan Ngọc, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đức Sự, Hồ Sĩ Hiệp - Hoài Anh. Tập trung vào tinh thần yêu nước, lý tưởng Nho giáo trung hiếu tiết nghĩa, tính nhân dân, khí phách chống ngoại xâm; tuy nhiên một số bài viết còn biểu hiện hiện đại hóa đối tượng.
Văn học sử Nguyễn Lộc, Lê Ngọc Trà, Trịnh Thị Thu Tiết, Trần Ngọc Vương. Đánh giá vị trí tác giả trong tiến trình cận đại hóa văn học; sự chuyển biến hình tượng từ người quân tử sang người nghĩa binh nông dân; việc dùng chữ Nôm để tải đạo và sự vận động thể loại.
Thi pháp học và thể loại Nguyễn Phong Nam (Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học), Trần Đình Hượu (Nguyễn Đình Chiểu - người nghệ sĩ từ và trong truyện Nôm), Kiều Thu Hoạch (Truyện Nôm lịch sử phát triển và thi pháp thể loại). Khảo sát thi pháp không gian, thời gian, kết cấu, ngôn ngữ; phân tích tính chất dân gian hóa, Nam Bộ hóa của thể loại truyện Nôm khi tiếp nhận truyền thống từ miền Bắc.
Lịch sử tiếp nhận Lê Văn Hỷ (Lịch sử tiếp nhận Nguyễn Đình Chiểu). Vận dụng các khái niệm tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mỹ, tiếp nhận và phản tiếp nhận trong văn học dân gian, văn học viết và sân khấu.
Văn bản học và ngôn ngữ học Lê Hữu, Hồng Dân, Hoàng Tuệ - Phạm Văn Hảo - Lê Văn Trường. Xử lý các dị bản Lục Vân Tiên, phân tích lớp từ ngữ địa phương Nam Bộ trong văn bản nghệ thuật.
Góc nhìn văn hóa Lê Trí Viễn, Nguyễn Văn Trung, Ca Văn Thỉnh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Văn Xuân (Khi những lưu dân trở lại), Cao Tự Thanh, Huỳnh Như Phương, Huỳnh Kỳ Sở, Huỳnh Ngọc Trảng, Trần Nho Thìn. Phân tích quan hệ giữa văn học với môi trường sinh thái nhân văn Nam Bộ, tính cách cương cường của hậu duệ lưu dân, sự dung hòa Nho giáo với đạo lý bình dân, và nghệ thuật nói thơ.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa thành tựu của các học giả đi trước, luận án của Tạ Thị Thanh Huyền lựa chọn giải quyết khoảng trống mang tính hệ thống: khảo sát một cách chỉnh thể sự tương tác hai chiều giữa không gian văn hóa Nam Bộ (được tạo thành bởi các lớp trầm tích Khmer, Việt, Hoa) và tác gia Nguyễn Đình Chiểu. Luận án không chỉ xem văn hóa là bối cảnh phản ánh mà xem văn hóa là môi trường sinh thành, đồng thời đánh giá tác động ngược lại của các hình tượng nhân vật và hệ giá trị do Nguyễn Đình Chiểu đúc kết đối với đời sống tinh thần của cư dân phương Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết về vùng văn hóa và phân vùng văn hóa: Dựa trên các nghiên cứu của Clark Wissler, Alfred L. Kroeber, cùng các công trình nghiên cứu trong nước của Ngô Đức Thịnh (Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, 1993), Đinh Gia Khánh - Cù Huy Cận (Các vùng văn hóa Việt Nam, 1995), Trần Quốc Vượng (Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, 1998). Không gian nghiên cứu được xác định qua các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán.
  2. Lý thuyết cấu trúc văn hóa: Ứng dụng mô hình các lớp văn hóa của Geert Hofstede (gồm bốn lớp từ ngoài vào trong: biểu tượng, nhân vật tiêu biểu, nghi lễ và giá trị cốt lõi) kết hợp với quan điểm ký hiệu học văn hóa của Clifford Geertz về việc xem văn hóa là mạng lưới ý nghĩa cần được chú giải.
  3. Lý thuyết không gian văn hóa và thời gian trầm tích: Vận dụng quan điểm của Michel Foucault trong Khảo cổ học về tri thức (Archeology of Knowledge) và Thome Williams (2008), thay thế mô hình thời gian tuyến tính bằng mô hình thời gian trầm tích (các vỉa tầng không gian - thời gian tích tụ, quá khứ và hiện tại đồng hiện diện, liên tục được khuấy đảo và làm mới). Luận án cũng tiếp thu quan điểm của Joel Bonnemaison (2005) về sự tái tạo không gian văn hóa của cộng đồng di dân và quan điểm của Rubén G. Rumbaut (2001, 2005) về căn tính lai ghép (hybrid identity).
  4. Phân biệt vùng và không gian văn hóa: Tiếp thu mô hình phân định của Damien Ehrhardt (2015):
Tiêu chí Khái niệm "Vùng" Khái niệm "Không gian"
Chiều kích Hai chiều Ba chiều hoặc nhiều hơn
Ranh giới Hạn định, có phân giới Không hạn định, không có đường biên xác định
Tính chất hệ thống Có nhiều vùng Tính thống nhất
Trạng thái vận động Ổn định Biến thiên
Độ mở Khép kín Mở
  1. Lý thuyết hình tượng học (Imagology): Vận dụng theo Manfred Beller và Joep Leerssen (2007) để giải mã các diễn ngôn về định kiến dân tộc, quan niệm phân biệt Hoa - Di, xung đột giữa tư tưởng Nho giáo với Thiên Chúa giáo và chủ nghĩa thực dân phương Tây.
  2. Lý thuyết tiếp nhận, liên văn bản và phản tiếp nhận: Vận dụng lý thuyết tiếp nhận của Wolfgang Iser, Hans Robert Jauss; lý thuyết liên văn bản của Julia Kristeva, Mikhail Bakhtin, Gérard Genette; quan niệm về thể loại của Tzvetan Todorov; cùng quan điểm về "phản tiếp nhận" của Trần Đình Sử (1996) khi phân tích sự tiếp nhận ngược chiều, tái tạo tư tưởng mới trong các thời kỳ biến đổi xã hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp tiếp cận văn hóa: Giải mã hệ thống biểu tượng, nghi lễ, mẫu hình nhân vật và thang giá trị trong tác phẩm.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội: Tái hiện hoàn cảnh lịch sử Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, các chính sách của triều Nguyễn, phong trào kháng Pháp và tiểu sử tác giả.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê: So sánh Lục Vân Tiên với Truyện Kiều, với tiểu thuyết Minh - Thanh và tuồng hát bội; so sánh tác phẩm Dương Từ - Hà Mậu với Tây Dương Gia Tô bí lục; thống kê các kỳ thi Nho học tại Gia Định và số lượng câu ca dao tiếp nhận thơ Đồ Chiểu.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 3 chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau ở Nam Bộ nhằm kiểm chứng tính chuẩn xác của các nhận định địa văn hóa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này trình bày cơ sở lý luận của hướng tiếp cận địa văn hóa, làm rõ các khái niệm công cụ: "vùng văn hóa", "không gian văn hóa", "thời gian trầm tích" và "căn tính lai ghép". Tác giả phân tích chi tiết lịch sử nghiên cứu tác gia Nguyễn Đình Chiểu qua các thời kỳ, phân loại thành các nhánh tiếp cận: tiểu sử, lịch sử tư tưởng, văn học sử, thi pháp học, lịch sử tiếp nhận và văn hóa học. Luận án xác định rõ việc nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu từ góc nhìn không gian văn hóa sẽ khắc phục tình trạng tách rời văn bản khỏi môi trường sinh thái nhân văn Nam Bộ, từ đó định hình cấu trúc nghiên cứu cho toàn bộ công trình.

Chương 2: Các lớp trầm tích của ba chủ thể chính Khmer, Việt, Hoa trong không gian văn hóa Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX

Chương 2 phác thảo diện mạo lịch sử - văn hóa của vùng đất Nam Bộ qua sự tương tác của ba cộng đồng cư dân chính:

  • Lớp văn hóa Khmer: Cung cấp nền tảng bản địa với hệ thống tín ngưỡng Phật giáo Nam tông, các huyền tích gắn với địa hình sông nước, đồng thời dung hợp vào đời sống tâm linh của người Việt qua các dạng thức tín ngưỡng đa thần.
  • Lớp văn hóa người Việt: Luận án chia tách thành hai nhóm để khảo sát:
    • Nhóm người Việt không theo đạo Thiên Chúa: Mang theo hành trang văn hóa làng xã truyền thống vùng đồng bằng sông Hồng nhưng có sự biến đổi mạnh mẽ do hoàn cảnh khẩn hoang. Làng xã Nam Bộ có tính mở, không khép kín như "ốc đảo", không có hương ước ngặt nghèo và thiếu vắng tầng lớp khoa bảng dòng họ lâu đời. Cư dân hình thành tính cách dám phiêu lưu, quật cường, trọng nghĩa khinh tài và phóng túng. Nhà Nguyễn (đặc biệt dưới thời vua Minh Mạng) đã đẩy mạnh chính sách Nho giáo hóa, ban hành Thập điều, tổ chức trường học và các kỳ thi Hương (từ khoa đầu tiên dưới thời Gia Long đến khoa thi cuối cùng năm 1864, đã tổ chức 20 kỳ thi, tuyển chọn 281 cử nhân và 4 người đỗ đại khoa). Bên cạnh đó, các sinh hoạt văn học như Bạch Mai thi xã và nghệ thuật tuồng đồ (tuồng quân quốc như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương) đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá tư tưởng trung nghĩa.
    • Nhóm người Việt theo đạo Thiên Chúa: Xuất hiện từ thế kỷ XVII qua các cuộc di cư lánh nạn tôn giáo từ miền Trung vào Nam Bộ. Dưới thời Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc giúp đỡ triều đình và xây dựng chủng viện tại Lái Thiêu (1798). Sang thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, triều đình thực thi chính sách cấm đạo nghiêm ngặt (Tự Đức ban hành 4 sắc chỉ cấm đạo vào các năm 1848, 1851, 1855, 1857), làm nảy sinh tình trạng nghi kỵ lương - giáo và tạo cớ cho thực dân Pháp can thiệp quân sự.
  • Lớp văn hóa người Hoa: Nhóm lưu dân "bài Mãn phục Minh" mang theo truyền thống thương nghiệp, hệ tư tưởng trung quân ái quốc, tín ngưỡng thờ Quan Công, Thiên Hậu, cùng các thành tựu văn học Minh - Thanh, đóng góp vào cơ cấu kinh tế và diện mạo đô thị thương cảng phương Nam.
  • Hệ thống giá trị, nghi lễ và nhân vật thế kỷ XIX: Không gian Nam Bộ đề cao tính nghĩa hiệp, sự hào sảng, tinh thần tự do, lối hành xử phân minh thiện - ác, tạo nên một môi trường văn hóa mở nhưng giàu ý thức tự tôn cộng đồng.

Chương 3: Ảnh hưởng từ không gian văn hóa Nam Bộ tới sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu

Chương này đi sâu vào phân tích sự khúc xạ của môi trường văn hóa Nam Bộ trong toàn bộ di sản thơ văn của tác giả:

  • Ảnh hưởng của Nho giáo Nam Bộ: Tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Đình Chiểu chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống "chính khí" của Võ Trường Toản. Tuy nhiên, Nho giáo trong tác phẩm của ông có những biểu hiện "lệch chuẩn" so với khuôn mẫu kinh viện phương Bắc: dung hợp đạo lý Nho gia với lối sống bình dân, đề cao hành động thực tế hơn lý thuyết giáo điều. Tác giả thể hiện thái độ phê phán Phật giáo suy đồi, bài xích Thiên Chúa giáo và cự tuyệt văn minh phương Tây trong các tác phẩm như Dương Từ - Hà Mậu, phản ánh phản ứng tự vệ của ý thức hệ Nho giáo truyền thống trước nguy cơ xâm lăng văn hóa và quân sự.
  • Ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo và nghi lễ: Tác phẩm kết hợp triết lý âm dương ngũ hành, tín ngưỡng thờ Huyền Thiên Thượng Đế và quan niệm bình dân về "âm chất - âm công" (tích đức phò đời) để răn dạy đạo lý làm người.
  • Xây dựng các kiểu mẫu nhân cách lý tưởng:
    • Lục Vân Tiên: Mẫu hình quân tử đặc sắc Nam Bộ, kết hợp đạo đức Nho gia với tính cách nghĩa hiệp của người trượng phu hành động vì việc nghĩa ("giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha").
    • Kiều Nguyệt Nga: Kiểu mẫu nhân cách liệt nữ tiết hạnh, thủy chung trọn vẹn.
    • Kỳ Nhân Sư: Mẫu hình ẩn sĩ bất hợp tác với cái xấu, giữ tròn khí tiết.
    • Trương Định, Phan Tòng: Những tấm gương anh hùng kháng chiến tiêu biểu được ca ngợi qua thơ điếu.
    • Tập thể người nghĩa binh nông dân: Lần đầu tiên trong lịch sử văn học, người nông dân mặc áo vải, tay cầm gậy tầm vông, rơm con cúi trở thành hình tượng trung tâm của bi tráng ca cứu nước trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
  • Tiếp thu thành tựu nghệ thuật: Tác giả kết hợp kết cấu chương hồi của tiểu thuyết Minh - Thanh, thể thức truyện thơ Nôm lục bát và tính chất xung đột kịch tính, chú trọng đối thoại - hành động của tuồng hát bội để tạo nên thể loại truyện thơ diễn xướng phù hợp với lối "nói thơ" của cư dân Nam Bộ.

Chương 4: Ảnh hưởng của Nguyễn Đình Chiểu tới không gian văn hóa Nam Bộ

Chương 4 xem xét tác động trở lại của tác giả đối với cộng đồng:

  • Biểu tượng nhân cách truyền cảm hứng: Cuộc đời vượt lên nghịch cảnh mù lòa, giữ vững khí tiết nhà nho trước sự mua chuộc của thực dân, hành nghề thầy giáo và thầy thuốc chữa bệnh cho dân nghèo đã đưa Nguyễn Đình Chiểu trở thành một bậc thầy đáng kính của nhân dân Nam Bộ.
  • Vai trò truyền bá tư tưởng: Ông đóng vai trò cầu nối chuyển tải các giá trị đạo đức Nho giáo chính thống từ không gian văn hóa Huế vào không gian văn hóa mới Nam Bộ, làm mềm hóa các tín điều bằng ngôn ngữ mộc mạc của quần chúng.
  • Đời sống tác phẩm trong không gian tiếp nhận:
    • Tiếp nhận thuận chiều: Tác phẩm Lục Vân Tiên đi sâu vào đời sống dân gian, hình thành lối sinh hoạt "nói thơ Vân Tiên" phổ biến khắp Bến Tre và lục tỉnh. Huỳnh Ngọc Trảng thống kê được 56 câu dân ca vùng Bình - Trị - Thiên và Nam Bộ sử dụng cốt truyện, nhân vật Vân Tiên - Nguyệt Nga như những điển cố văn học bình dân. Tác phẩm trở thành cẩm nang đạo lý gia đình trong mỗi nếp nhà nông thôn.
    • Hiện tượng phản tiếp nhận: Đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh xã hội Nam Bộ chuyển sang thời kỳ chữ quốc ngữ và tiếp xúc văn hóa phương Tây, xuất hiện các tác phẩm phóng tác, cải biên như Bùi Kiệm kim thời, Đơn Bùi Kiệm kiện Võ Phi Loan, Đơn Nguyệt Nga minh oan cho Bùi Kiệm, Thơ Vân Tiên cờ bạc. Đây là hiện tượng phản tiếp nhận mang tính quy luật, phản ánh sự thay đổi hệ hình thẩm mỹ và nhu cầu giải thiêng của thế hệ độc giả đô thị giao thời.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt lý luận và học thuật: Luận án xác lập khung phân tích địa văn hóa liên ngành (văn học - văn hóa học - lịch sử xã hội - hình tượng học - lý thuyết tiếp nhận), chứng minh một cách có hệ thống sự tương tác hai chiều giữa không gian văn hóa Nam Bộ và tác gia Nguyễn Đình Chiểu. Luận án chỉ ra rằng văn chương Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là sự phản ánh thụ động mà là một cấu thành chủ động tham gia kiến tạo các giá trị văn hóa của vùng đất mới.
  2. Về mặt tư liệu và thực tiễn:
    • Phân loại rõ nét các nhân tố văn hóa cấu thành nên nhân cách và văn nghiệp Nguyễn Đình Chiểu: di sản lưu dân Việt, lớp văn hóa lưu dân Hoa, sự ảnh hưởng từ trung tâm văn hóa Thuận - Quảng (Huế), chính sách Nho giáo hóa của triều Nguyễn, phong trào kháng chiến chống Pháp của quần chúng phương Nam.
    • Làm rõ sự dịch chuyển và dung hợp thể loại: chuyển hóa truyện thơ Nôm bác học truyền thống thành hình thức văn học diễn xướng bình dân (nói thơ).
    • Đánh giá hiện tượng tiếp nhận và phản tiếp nhận đối với truyện Lục Vân Tiên đầu thế kỷ XX như một quy luật vận động văn hóa khi chuyển đổi hệ hình xã hội.
  3. Ứng dụng thực tiễn: Cung cấp tư liệu và góc nhìn văn hóa học để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu tác gia Nguyễn Đình Chiểu trong chương trình giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát không gian văn hóa Nam Bộ trong giới hạn lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX. Các biểu hiện tiếp nhận của văn học Nam Bộ thời kỳ hiện đại sau năm 1975 và việc lan tỏa của không gian văn hóa Nam Bộ ra ngoài biên giới lãnh thổ chưa nằm trong phạm vi giải quyết của công trình. Phần khảo sát tiếp nhận trong văn học chữ quốc ngữ giai đoạn giao thời mới dừng lại ở các tác phẩm phóng tác tiêu biểu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự chuyển dịch của các biểu tượng văn hóa Nguyễn Đình Chiểu trong văn học, nghệ thuật sân khấu, điện ảnh hiện đại; nghiên cứu so sánh sâu hơn về sự va chạm giữa các văn bản bài Thiên Chúa giáo của nho sĩ Nam Bộ với các tài liệu truyền giáo đương thời ở khu vực Đông Á.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn hóa học: Luận án cung cấp một mô hình nghiên cứu tác gia theo hướng tiếp cận địa văn hóa và liên ngành hoàn chỉnh; chỉ ra phương pháp tích hợp lý thuyết trầm tích không gian của Foucault và mô hình cấu trúc văn hóa của Hofstede vào nghiên cứu văn học trung đại.
  • Đối với giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử, xã hội, thi pháp cụ thể về các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp), hỗ trợ việc đổi mới phương pháp giảng dạy tác gia văn học gắn liền với bối cảnh văn hóa vùng miền.
  • Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Nam Bộ: Tài liệu hệ thống hóa quá trình tương tác của ba chủ thể Việt, Khmer, Hoa, cùng diễn biến các chính sách Nho giáo và sự thâm nhập của đạo Thiên Chúa tại Nam Kỳ thế kỷ XIX.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng lý thuyết không gian văn hóa nào làm khung phân tích chủ đạo?

Luận án vận dụng mô hình không gian văn hóa và thời gian trầm tích dựa trên lý thuyết khảo cổ học tri thức của Michel Foucault kết hợp với sự phát triển của Thome Williams (2008), cấu trúc 4 lớp văn hóa của Geert Hofstede, cùng các tiêu chí phân biệt vùng văn hóa và không gian văn hóa của Damien Ehrhardt (2015).

2. Sự khác biệt căn bản giữa cấu trúc làng xã cổ truyền Bắc Bộ và làng xã người Việt ở Nam Bộ theo khảo sát của luận án là gì?

Làng xã Bắc Bộ mang tính tự trị khép kín cao, có hương ước ngặt nghèo, công điền lớn và truyền thống khoa bảng dòng họ lâu đời. Ngược lại, làng xã Nam Bộ có tính mở, cơ động, hầu như không có hương ước và công điền, ít chịu sự ràng buộc của các thiết chế dòng họ khoa bảng, phản ánh tính chất năng động và dám phiêu lưu của người lưu dân.

3. Số liệu khoa cử Nho học tại Nam Bộ dưới triều Nguyễn được luận án thống kê như thế nào?

Dưới thời các chúa Nguyễn (1647–1768), có 7 kỳ thi được tổ chức với 219 người đỗ. Từ kỳ thi Hương đầu tiên tại Gia Định thời Gia Long đến kỳ thi cuối cùng năm 1864, nhà Nguyễn tổ chức tổng cộng 20 kỳ thi, tuyển chọn 281 cử nhân, trong đó có 4 người đỗ đại khoa.

4. Tác giả giải thích thế nào về hiện tượng "phản tiếp nhận" đối với tác phẩm Lục Vân Tiên ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX?

Theo quan điểm của GS. Trần Đình Sử được luận án trích dẫn, phản tiếp nhận là hiện tượng bạn đọc tìm thấy tư tưởng ngược chiều hoặc sáng tạo tư tưởng mới khác với nguyên tác. Đầu thế kỷ XX, các tác phẩm như Bùi Kiệm kim thời hay Thơ Vân Tiên cờ bạc ra đời phản ánh sự thay đổi hệ hình tiếp nhận của thế hệ mới trong bối cảnh xã hội đô thị hóa và tiếp xúc văn hóa phương Tây.

5. Những thành tố nghệ thuật nào đã được Nguyễn Đình Chiểu tổng hợp trong truyện thơ Lục Vân Tiên?

Theo phân tích của luận án và nghiên cứu của GS. Trần Nho Thìn, Lục Vân Tiên là sự tổng hợp nghệ thuật giữa cốt truyện luân lý chịu ảnh hưởng tiểu thuyết Minh - Thanh, thể thức truyện Nôm lục bát, tư duy cổ tích dân gian và phong cách kịch tính, thiên về hành động, đối thoại của nghệ thuật tuồng hát bội Nam Bộ.


Kết luận

Luận án Nguyễn Đình Chiểu trong không gian văn hóa Nam Bộ của tác giả Tạ Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu văn học sử và địa văn hóa có cấu trúc chặt chẽ, tiếp cận đối tượng từ hệ tọa độ không gian văn hóa đa tầng. Bằng việc phân tích sự tương tác giữa ba lớp trầm tích văn hóa Khmer, Việt, Hoa với nhân cách và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, luận án làm sáng tỏ quá trình chuyển hóa các giá trị Nho giáo thành đạo lý sống bình dân và tinh thần quật cường của nhân dân Nam Bộ. Công trình xác lập vị trí của Nguyễn Đình Chiểu như một biểu tượng văn hóa tiêu biểu, có ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài đến đời sống tinh thần của vùng đất phương Nam.