mở đầu bài viết, tác giả đã dẫn 2 mẩu chuyện giống như hai ví dụ để đưa ra nhận định: Tài liệu lưu trữ là nguồn tư liệu có tác dụng tích cực đối với việc nghiên cứu lịch sử. Tác giả đã nêu ra hai khó khăn chính của người nghiên cứu lịch sử Việt Nam, đó là: thiếu điều kiện để tới các trung tâm lớn có nhiều tài liệu về Việt Nam ở nước ngoài (như Pháp, Mỹ, Nga, Nhật, Trung Quốc…); có ít điều kiện tiếp cận các nguồn tài liệu gốc. Tác giả cho rằng: việc công khai hóa các nguồn tư liệu lịch sử có nhiều ý nghĩa quan trọng. Đó là cung cấp cho các nhà nghiên cứu nguồn tư liệu đương thời xác thực để đánh giá đúng các sự kiện và nhân vật, hiệu đính sai sót của các công trình đã công bố, đính chính những sự kiện không chính xác… Đồng thời thực hiện quy chế dân chủ và bình đẳng trong việc tiếp cận và khai thác tư liệu; công khai hóa tư liệu lịch sử góp phần xây dựng một xã hội dân chủ và trách nhiệm.
Từ việc phân tích những nội dung trên, tác giả đã có khuyến nghị về việc 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước cần ban hành một đạo luật hoặc một văn bản có tính quy định thời hạn để công khai hóa các nguồn lưu trữ về những vấn đề lịch sử đã diễn ra trước đó 30, 40, 50 năm là rất cần thiết và cấp thiết, để qua đó từng bước nâng cao nền sử học nước nhà với những giá trị đích thực của nó. Về tổ chức, khai thác sử dụng và phát huy giá trị sử liệu tài liệu lưu trữ Bên cạnh giá trị sử liệu của tài liệu lưu trữ, việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn tài liệu lưu trữ để phát huy tối đa giá trị sử liệu là một trong những nội dung quan trọng, đã được các công trình nghiên cứu đề cập đến như sau: Với chủ đề này, tác giả Vũ Thị Phụng có bài viết Khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ trong các công trình nghiên cứu lịch sử [119], đã đưa ra quan điểm về vai trò của tài liệu lưu trữ đối với nghiên cứu lịch sử, khẳng định tài liệu lưu trữ là một nguồn sử liệu đặc biệt, có nội dung phong phú, có độ chân xác và độ tin cậy cao đối với các nhà nghiên cứu lịch sử. Đồng thời thông qua một số khảo sát bước đầu, tác giả đã nêu lên tình hình khai thác, sử dụng nguồn tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu lịch sử ở Việt Nam và cuối cùng, tác giả đã đưa ra một vài khuyến nghị dưới góc độ lưu trữ học. Bài viết của tác giả Vũ Thị Phụng có ý nghĩa lớn đối với quá trình khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ của các nhà nghiên cứu lịch sử.
Đối với luận án, bài viết là một tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả có thể đi sâu phân tích vai trò, giá trị của nguồn tài liệu lưu trữ Trung ương Đảng giai đoạn 1930-1945. Sử dụng tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu lịch sử hiện đại [17] của tác giả Hà Minh Hồng nêu ra 4 nội dung chính: Trong nội dung đầu tiên về mấy vấn đề nghiên cứu lịch sử hiện đại, tác giả nêu ra ba mảng nội dung lớn của lịch sử hiện đại đang được tập trung nghiên cứu. Tác giả đã chỉ ra việc nghiên cứu lịch sử hiện đại không chỉ là nhu cầu bức thiết của thời kỳ hiện đại mà còn là công việc thường nhật của giới nghiên cứu với nội dung và phạm vi nghiên cứu rất phong phú. Trong nội dung thứ hai về vai trò và vị trí của công tác sử liệu, tác giả nhấn mạnh vai trò của sử liệu, trước hết là sử liệu gốc - có giá trị minh chứng lịch sử, là hệ thống những sự kiện, nhân chứng, vật chứng về quá trình lịch sử, một bằng chứng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về sự thật và tiến trình phát triển thăng trầm của lịch sử; vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa cấu thành lịch sử.
Sử liệu gốc còn có giá trị là những văn bản gốc, tài liệu gốc, dùng để làm cơ sở cho những đối chiếu, so sánh để xác minh sự thật lịch sử. Nhận định vai trò đó, tác giả cho rằng trong các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, phương pháp sử liệu là quan trọng nhất, nó xác định giá trị khoa học của công trình nghiên cứu. Đối với nội dung thứ ba về nguồn sử liệu hiện nay, tác giả đã sắp xếp vị trí ý nghĩa của ba loại nguồn sử liệu đối với việc nghiên cứu. Từ đó, xác định tài liệu lưu trữ là nguồn sử liệu quý giá, bởi nó phản ánh cụ thể, đa chiều, đa mức độ của thực tế lịch sử hiện đại đã, đang diễn ra.
Tác giả cũng nêu ra những khó khăn cũng như hạn chế trong khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ. Từ ba nội dung trên, tác giả đã đưa ra mấy kiến nghị trao đổi khi nghiên cứu sử liệu, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của công tác lưu trữ, vai trò và trách nhiệm của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và trực tiếp là cơ quan lưu trữ đối với việc bảo quản, khai thác và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ - nguồn sử liệu quan trọng trong nghiên cứu lịch sử. Nhằm làm rõ mối quan hệ giữa công tác nghiên cứu lịch sử và công tác lưu trữ, tác giả Phạm Xanh với bài viết Từ thực tiễn nghiên cứu lịch sử nghĩ về công tác lưu trữ nước nhà [17] đã khái quát một cách chân thực về quá trình nghiên cứu lịch sử của chính tác giả. Khoảng trống lịch sử được tác giả nhấn mạnh là sự thiếu vắng của nguồn sử liệu.
Để làm rõ điều đó, tác giả đã dẫn chứng bằng cách đưa ra nhiều ví dụ về sự kiện lịch sử. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh rằng tài liệu lưu trữ quan trọng của nước ta trong giai đoạn 1897-1945 đang “lưu lạc” ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó tập trung ở Pháp, Trung Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hoa Kỳ… Đây cũng chính là những khó khăn đối với công tác nghiên cứu lịch sử Việt Nam và của các nhà khoa học Việt Nam. Để khỏa lấp những khoảng trống tư liệu, tác giả đã đưa ra một vài giải pháp, cụ thể: Dựa theo những công ước quốc tế, chúng ta có thể yêu cầu những nước từng thống trị chúng ta trả lại những thứ mà họ đã “tước đoạt”, trong đó có tư liệu lưu trữ; nhà nước đầu tư tiền bạc để sao chụp những tài liệu quan trọng, cần thiết để bổ 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sung cho các trung tâm lưu trữ; kết nối Internet giữa các trung tâm lưu trữ nước ta với các trung tâm lưu trữ các nước có tài liệu Việt Nam. Trong việc phát huy giá trị sử liệu của tài liệu lưu trữ, nhất là trong công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ, việc công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ có liên quan mật thiết đến việc phát huy giá trị sử liệu của tài liệu lưu trữ.
Một số công trình nghiên cứu dưới đây tuy đề cập nội dung chủ yếu về công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ cũng như việc công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ nhưng cũng là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp phát huy giá trị sử liệu của tài liệu lưu trữ, đó là: Bài viết Xây dựng mô hình liên kết, hợp tác giữa các cơ quan lưu trữ và các nhà khoa học trong việc sưu tầm, tổng hợp và cung cấp tư liệu [17] của PGS.TS Vũ Thị Phụng. Tác giả chia bài viết thành 2 phần, phần thứ nhất có nội dung sự cần thiết của việc liên kết và hợp tác giữa các cơ quan lưu trữ và các nhà khoa học. Trong phần này, tác giả nhấn mạnh đến khó khăn từ phía các nhà khoa học trong vấn đề sưu tầm, tiếp cận, hệ thống và tra tìm tài liệu. Đồng thời, tác giả cũng nêu rõ những khó khăn từ phía các cơ quan lưu trữ trong vấn đề thu thập, tổ chức khoa học tài liệu để phục vụ nhu cầu khai thác và sử dụng của độc giả, trong đó có các nhà khoa học - đối tượng chủ yếu và thường xuyên của các cơ quan lưu trữ.
Tác giả đã khẳng định mối quan hệ và sự trợ giúp giữa cơ quan lưu trữ, cán bộ lưu trữ với các nhà nghiên cứu khi có nhu cầu khai thác tài liệu đang còn nhiều khoảng cách và tác giả đặt ra một câu hỏi ngỏ: Liệu có giải pháp gì cho việc thu hẹp khoảng cách nói trên? Để trả lời cho câu hỏi trên, trong phần hai của bài viết, tác giả đã đưa ra nội dung: xây dựng mô hình liên kết, hợp tác giữa các cơ quan lưu trữ với các cơ quan khoa học trong việc sưu tầm, hệ thống và cung cấp tư liệu. Phần này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để thu hẹp khoảng cách và phát huy tốt giá trị cũng như tiềm năng của các cơ quan lưu trữ nhằm hỗ trợ tích cực nhất cho các nhà nghiên cứu. Về công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ có bài viết Công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ phục vụ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn [17] của tác giả Nguyễn Văn Hàm. Ở bài viết này tác giả trình bày 3 vấn đề: Tiềm năng thông tin quá khứ 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tài liệu lưu trữ; vì sao phải công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ; công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ như thế nào? Trong nội dung thứ nhất: tiềm năng thông tin quá khứ của tài liệu lưu trữ, tác giả đã nêu khái quát các tài liệu lưu trữ có tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, III và Kho Lưu trữ Trung ương Đảng.
Đối với tài liệu lưu trữ được bảo quản trong Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, là những tài liệu liên quan chủ yếu đến những hoạt động chủ yếu của các tổ chức Đảng từ năm 1930 đến nay. Những tư liệu này thể hiện rõ bản lĩnh trí tuệ, tính sáng tạo trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng nước ta gần một thế kỷ qua của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến kho lưu trữ của các tỉnh, huyện, xã trên cả nước.