Luận văn thạc sĩ về người ả đào qua các nguồn tư liệu từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX

Khám phá luận văn thạc sĩ USSH về người ả đào qua tư liệu từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX, phân tích văn hóa và lịch sử sâu sắc.

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2011

153
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Bố cục luận văn gồm 3 phần

1. CHƯƠNG 1: ĐỊA VỊ NGƯỜI Ả ĐÀO - CHỦ NHÂN CỦA MÔN NGHỆ THUẬT CA TRÙ

1.1. Giải nghĩa một số khái niệm trong ca trù

1.2. Giáo phường

1.3. Địa vị người ả đào - chủ nhân của bộ môn nghệ thuật ca trù

1.4. Vị trí của người ả đào trong thời kỳ ca trù được sử dụng trong các nghi lễ

1.5. Địa vị của người ả đào trong thời kỳ ca trù trở thành hình thức giải trí

1.6. Hình ảnh người ả đào trong thời kỳ ca trù suy tàn

1.7. Vị trí của nghệ thuật diễn xướng ca trù trong đời sống văn hoá nghệ thuật (đặt trong sự đối chiếu với sân khấu tuồng truyền thống)

1.8. Không gian nghệ thuật diễn xướng ca trù

1.9. Vị trí của nghệ thuật diễn xướng ca trù trong đời sống văn hoá nghệ thuật

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI Ả ĐÀO QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU TỪ THẾ KỶ XVIII ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIX

2.1. Hình ảnh người ả đào qua các nguồn tư liệu từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX

2.2. Các loại nhân vật ả đào qua các tư liệu thế kỷ XVIII

2.3. Nhân vật ả đào qua nguồn tư liệu thế kỉ XIX

2.4. Ả đào – thân phận của những kiếp hồng nhan mệnh bạc

2.5. Cái nhìn đa chiều từ phía những người thưởng thức

2.6. Mối quan hệ giữa ả đào và những người thưởng thức

2.7. Cái nhìn đa chiều từ phía người thưởng thức. So sánh nhân vật ả đào với nhân vật kĩ nữ ở Trung Quốc và Geysha ở Nhật Bản

3. CHƯƠNG 3: NGƯỜI Ả ĐÀO QUA CÁC NGUỒN TƯ LIỆU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1. Thân phận ả đào qua nguồn tư liệu nửa đầu thế kỷ XX

3.2. Nhân vật ả đào nhìn từ phía các văn nhân nửa đầu thế kỷ XX

3.2.1. Cái nhìn thuần túy, thiếu trân trọng từ phía những người thưởng thức

3.2.2. Cái nhìn tinh tế giàu cá tính sáng tạo từ phía các văn nhân

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về người ả đào qua tư liệu thế kỷ XVIII đến XX

Nghiên cứu về người ả đào từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX mang lại cái nhìn sâu sắc về vị trí và vai trò của họ trong văn hóa Việt Nam. Người ả đào không chỉ là những nghệ sĩ biểu diễn mà còn là những nhân vật văn hóa phản ánh sự phức tạp của xã hội đương thời. Từ những tư liệu văn học, hình ảnh của họ hiện lên với nhiều sắc thái, từ sự tôn vinh đến sự miệt thị. Việc tìm hiểu về họ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa Việt Nam trong bối cảnh xã hội phong kiến.

1.1. Định nghĩa và vai trò của người ả đào trong văn hóa

Người ả đào, hay còn gọi là ca nương, là những nghệ sĩ biểu diễn trong bộ môn nghệ thuật ca trù. Họ giữ vai trò quan trọng trong việc truyền tải văn hóa và nghệ thuật dân gian, đồng thời phản ánh những giá trị xã hội và tâm tư của con người trong thời kỳ phong kiến.

1.2. Tư liệu từ thế kỷ XVIII đến XX về người ả đào

Tư liệu từ thế kỷ XVIII đến XX cung cấp cái nhìn đa chiều về người ả đào. Các tác phẩm văn học, thơ ca và tài liệu lịch sử đã ghi lại hình ảnh của họ, từ những người nghệ sĩ tài năng đến những phận người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.

II. Vấn đề và thách thức của người ả đào trong xã hội

Người ả đào phải đối mặt với nhiều thách thức trong xã hội phong kiến, nơi mà văn hóa ả đào thường bị coi thường. Họ không chỉ là những nghệ sĩ mà còn là những người phụ nữ phải chịu đựng sự phân biệt giới tính và định kiến xã hội. Những vấn đề này đã ảnh hưởng đến cách nhìn nhận và đánh giá về họ trong văn hóa và lịch sử.

2.1. Định kiến xã hội đối với người ả đào

Trong xã hội phong kiến, người ả đào thường bị coi là những người không có giá trị, bị gán cho những định kiến tiêu cực. Điều này dẫn đến sự thiếu tôn trọng và đánh giá thấp về tài năng và phẩm giá của họ.

2.2. Thân phận và cuộc sống của người ả đào

Cuộc sống của người ả đào thường gắn liền với những khó khăn và thử thách. Họ phải sống trong một xã hội mà sự tôn trọng dành cho họ là rất hạn chế, và thường xuyên phải đối mặt với những áp lực từ cả gia đình và xã hội.

III. Phương pháp nghiên cứu về người ả đào

Nghiên cứu về người ả đào cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để có cái nhìn toàn diện. Việc phân tích tư liệu văn học, khảo sát lịch sử và phỏng vấn các chuyên gia sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò và vị trí của họ trong văn hóa Việt Nam.

3.1. Phân tích tư liệu văn học

Phân tích các tác phẩm văn học từ thế kỷ XVIII đến XX sẽ giúp hiểu rõ hơn về hình ảnh và vai trò của người ả đào trong văn hóa. Những tác phẩm này thường phản ánh tâm tư và cảm xúc của xã hội đối với họ.

3.2. Khảo sát lịch sử và văn hóa

Khảo sát lịch sử và văn hóa sẽ cung cấp bối cảnh cho sự phát triển của người ả đào. Việc tìm hiểu các yếu tố xã hội, kinh tế và chính trị sẽ giúp làm rõ hơn về vị trí của họ trong xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu về người ả đào không chỉ có giá trị trong việc hiểu biết về văn hóa mà còn có thể ứng dụng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Những hiểu biết này có thể giúp nâng cao nhận thức về vai trò của họ trong xã hội hiện đại.

4.1. Bảo tồn văn hóa ca trù

Việc nghiên cứu và hiểu biết về người ả đào sẽ góp phần vào công tác bảo tồn văn hóa ca trù, một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam. Điều này không chỉ giúp gìn giữ nghệ thuật mà còn tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống.

4.2. Nâng cao nhận thức xã hội

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để nâng cao nhận thức xã hội về người ả đào. Việc tôn vinh và công nhận giá trị của họ sẽ giúp cải thiện hình ảnh và vị trí của họ trong xã hội hiện đại.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về người ả đào

Nghiên cứu về người ả đào từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XX mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu văn hóa và lịch sử. Tương lai của nghiên cứu này cần tiếp tục khai thác sâu hơn về vai trò và ảnh hưởng của họ trong văn hóa Việt Nam.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các tác phẩm văn học liên quan đến người ả đào và vai trò của họ trong các hoạt động văn hóa khác.

5.2. Tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản

Bảo tồn di sản văn hóa liên quan đến người ả đào là rất quan trọng. Việc này không chỉ giúp gìn giữ nghệ thuật ca trù mà còn tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐỊA VỊ NGƯỜI Ả ĐÀO - CHỦ NHÂN CỦA MÔN NGHỆ THUẬT CA TRÙ 1. Giải nghĩa một số khái niệm trong ca trù Ca trù là một di sản văn hóa đặc sắc của Việt Nam. Hát ca trù là một loại hình nghệ thuật đặc sắc của dân tộc có chiều dày lịch sử và chiều sâu về nghệ thuật. Để đưa ra những đánh giá chính xác về vị trí và vai trò của lối hát ca trù trong đời sống văn hoá nghệ thuật, trước tiên cần tìm hiểu một số khái niệm trong bộ môn nghệ thuật này.1 Ca trù Ca trù là một khái niệm chỉ một lối hát mà trong nó có rất nhiều điệu hát (theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói.

Trong cách hiểu thông thường, khái niệm ca trù có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như hát ả đào, hát nhà trò, hát cô đầu, hát nhà tơ. nhưng nội dung của chúng không thay đổi và vẫn được hiểu như nhau. Ở Thanh Hóa ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ. Về mặt ngữ nghĩa thì ca trù xưa nay được giải thích là hát thẻ.

Trù có nghĩa là thẻ. Trong các cuộc hát tùy theo tiếng trống khen chê của quan viên cầm chầu mà đào và kép được thưởng bao nhiêu thẻ. Thẻ được làm bằng tre, trên đó ghi số tiền hoặc được ngầm quy định mỗi thẻ tương ứng với bao nhiêu tiền. Số thẻ này, sau đó, quy đổi thành tiền dùng để trả công cho giáo phường hoặc đào kép.

Tục thưởng thẻ này cho chúng ta thấy, ca trù trong quá khứ đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp; đi hát được trả tiền công, nghĩa là nghề hát trở thành một nghề mưu sinh, kiếm sống của các nghệ nhân ca trù xưa. Từ thế kỷ XV tới nay, ca trù đã có nhiều biến đổi, trong đó đổi thay quan 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng nhất là ca trù chuyển từ lối hát thờ ở đình đền sang lối hát chơi tại các nhà riêng hay ca quán, tỉnh thành vào thế kỷ XIX. Đây là một biến chuyển trọng đại. Từ một bộ môn nghệ thuật mang tính chất nghi lễ, thờ phụng, ca trù chuyển thành nghệ thuật giải trí phục vụ nhu cầu của nhiều người, chủ yếu là giới văn nhân nho sỹ phong lưu.

Sự biến chuyển đó kéo theo những đổi thay của nhạc cụ, cách diễn xướng, các bài hát… và ngay cả người biểu diễn – đào và kép cũng phải thay đổi cho phù hợp với không khí giải trí ở thành thị. Chính ở giai đoạn này, với vai trò là một thú chơi, một thứ giải trí phục vụ tầng lớp văn nhân nho sỹ, ca trù đã thể hiện một gương mặt đa sắc thái: bên cạnh sự thăng hoa, phát triển đỉnh cao về nghệ thuật và những sinh hoạt văn hoá độc đáo là những số phận đời thường bạc mệnh, trớ trêu của các đào nương. Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, ca trù vẫn là đề tài hấp dẫn với rất nhiều các văn nghệ sỹ, tuy nhiên, càng về sau cùng với những biến động lớn của lịch sử, bộ môn nghệ thuật này suy dần và tàn lụi hẳn.2 Ả đào: Ả đào là thành viên quan trọng nhất trong tiệc hát ca trù. Vai trò của ả đào là làm ca sĩ cho tiệc hát nhưng khác với ca sĩ ở chỗ ả đào vừa hát vừa gõ phách.

Ả đào là nữ giới, kép là nam giới. Về tên gọi ả đào, chúng tôi tìm thấy sự xuất hiện của tên gọi này trong một số tài liệu sau: Đại Việt sử kí tòan thƣ, ghi về năm 1025, rằng “ khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thƣờng đƣợc ban thƣởng. Ngƣời bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là đào nƣơng”. Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ cũng nói rằng thời Lý thái tổ (1010-1028) có người ca nhi tên là Đào Thị tài giỏi, hát hay được vua ban thưởng, từ đó về sau những người đi hát được gọi là đào nương (tức ả đào).

Trong Công dƣ tiệp ký dành hẳn một câu chuyện để nói về nguồn gốc tên gọi ả đào nhưng vào một thời điểm muộn hơn. Cuối nhà 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hồ (1400-1407) một ca nhi họ Đào, ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, giết được nhiều giặc Minh, về sau dân làng ở đây lập đền thờ, gọi thôn của nàng là thôn ả Đào, và cũng từ đó ca nhi được gọi là ả đào. Ngoài tên gọi ả đào, nghệ nhân nữ trong ca trù còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như cô đầu, ca nữ, kỹ nữ, ca kỹ, ca nhi… Trong tất cả các tên gọi, cô đầu là tên gọi đặc trưng nhất của lối hát ca trù. Tên gọi này bắt nguồn từ một tục lệ riêng của ca trù.

Những ả đào danh ca, dạy được nhiều học trò thành nghề, thì mỗi khi đi hát, học trò thường trích ra một món tiền đưa về cung dưỡng thầy. Tiền đó gọi là tiền đầu. Từ tục lệ đó mà người ta gọi ả đào là cô đầu. Đào nương xưa phải tuân thủ hàng trăm thứ kiêng kỵ, cốt sao cho giữ được tiếng hát đẹp màu âm sắc và giữ được tiếng thơm của con nhà nền nếp.

Họ là những người làm nghề hát múa chuyên nghiệp, ban đầu để phục vụ các nghi lễ thờ thần, về sau chuyển hoá thành một hình thức giải trí, mua vui. Phải nói thêm là bản thân hát ả đào cũng trải qua quá trình từ nghiệp dư (hát cửa đình) tiến đến chuyên nghiệp. Nói cách khác, ban đầu người kỹ nữ ả đào là những người phụ nữ thuần tuý sống bằng nghề hát xướng, phục vụ nhu cầu giải trí của xã hội, nhưng do tương tác giữa người biểu diễn và các văn nhân thưởng thức thay đổi đã dẫn đến sự xuất hiện kiểu người phụ nữ không chỉ phục vụ nhu cầu giải trí nghệ thuật thuần tuý mà còn cả nhu cầu thân xác của cánh đàn ông có tiền của. Chính vì vậy trong xã hội xuất hiện quan niệm ả đào là những người dâm đãng, đồi bại, quyến rũ đàn ông, ham tiền thích của.

Đó là cách nhìn từ quan điểm nhà Nho bảo thủ về đạo đức xã hội, song nếu nhìn từ góc độ giải phóng đời sống tinh thần, tình cảm thì dễ thấy, Nho giáo đã không còn đủ sức ràng buộc những tín điều khắt khe của nó đối với đời sống tình con người ở thế kỷ XVIII, XIX. Tuy nhiên cách nhìn ấy vẫn còn để lại một vệt dài trong tâm thức của các văn nghệ sỹ những năm đầu thế kỷ XX. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Kép: Kép cùng với đào là những thành viên quan trọng trong cuộc hát ca trù, thông thường được gọi chung là đào kép, trong đó vai trò chính của kép là gảy đàn (nhạc công), đào là hát. Một số sách nói rằng ngày xưa kép cũng có tham gia hát, điệu hát nói kép hát thì gọi là điệu hà nam, điệu hát trai, đào hát thì gọi là hát gái hay nữ xướng, kép hát trước rồi đào hát lại đúng bài, đúng điệu thì gọi là hà liễu.

Như vậy, kép ở đây được hiểu là nhạc công nam, chơi đàn đáy trong ca trù. Nhạc công này có thể cũng là người hát trong một số tiết mục hát thờ ở cửa đình. Ngoài ra chữ kép còn được dùng để chỉ những người đàn ông làm nghề đàn, hát, diễn viên trong nghệ thuật ca hát truyền thống như tuồng, chèo.4 Quan viên: Khái niệm quan viên trong ca trù dùng để gọi những người tham gia nghề hát. Trong một cuộc hát ca trù, quan viên cũng có thể tham gia cầm chầu.

Họ có thể vừa là công chúng thưởng thức và cũng có thể là thành viên của ban nhạc. Quan viên thời trước thường là bậc phong lưu, tao nhân mặc khách, sành âm luật, vũ đạo, thể cách v. nên tham dự không phải là thính giả thụ động, ngược lại quan viên được cầm chầu, đánh trống thưởng cho các chỗ hay trong cuộc hát. Tiếng trống của người quan viên cầm chầu trở thành một bộ phận hữu cơ của cuộc hát.

Theo các tác giả sách Việt Nam ca trù biên khảo, gọi là quan viên là vì: “1 – Sách ca trù bị khảo: Lệ xƣa con các quan từ Án sát trở lên, dẫu không đỗ đạt cũng đƣợc triều đình tặng cho Ấm tử. Chức Ấm tử đƣợc miễn hết sƣu sao tạp dịch. Con các quan phủ, huyện gọi là quan viên tử, đƣợc miễn tạp dịch trong làng. Ngƣời ta gọi ngƣời đi hát là quan viên có ý ám chỉ đó là hạng phong lƣu, công tử.

2- Lại có thuyết nói Quan viên là những bậc phong lƣu đi du quan thƣởng thức”. Tóm lại, các quan viên là những người thuộc tầng lớp trên, có tiền của, có nhu cầu thưởng thức, giải trí bằng nghệ thuật, qua thú chơi mà 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành thạo, thông hiểu cách cầm chầu trong lối hát ả đào, tức là những người sành thơ ca và âm luật. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XX, cuộc sống hưởng lạc, sự ăn chơi phóng đãng ở chốn thành thị ngày càng phát triển, các quan viên đi hát thì không nhằm thưởng thức ca nhạc, văn chương, mà chỉ là dịp tụ họp bạn hữu hành lạc, kiếm tìm mỹ nhân! Về phía các ả đào, nhiều cô chỉ biết hát dăm ba câu, thậm chí không biết hát mà chỉ có chút nhan sắc và những ả đào này chỉ có bổn phận lo ép các quan viên uống thật nhiều rượu để chủ nhân Nhà trò (tức tiệm Cô đầu) kiếm lời. Họ chính là những cô đầu rượu, và sẵn sàng “chiều lòng” các quan viên! Đó là nguyên nhân gây ra tiếng xấu chung cho giới cầm ca.5 Giáo phường Giáo phường vốn là chữ mượn từ Trung Hoa, có nghĩa là trường dạy nhạc.

Trung Quốc thời Tuỳ Đường đã thành lập các giáo phường lớn, giao cho quan Thái thường quản lý. Các nghệ nhân trong giáo phường gọi là Cung nhân, phần lớn là con gái nhà thường dân, dung mạo xinh đẹp, được học nhiều ngón đàn, điệu múa để phục vụ nhu cầu trong cung đình. Sách Lịch sử kỹ nữ xếp các nghệ nhân giáo phường này vào loại cung kỹ, tức là kỹ nữ trong cung đình. Sách có giải thích về các cung kỹ như sau: “Cung kỹ chỉ nữ nghệ nhân ca múa chuyên nghiệp trong cung đình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ