Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán (liên hệ với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Lê Thị Kim Dung thực hiện năm 2020 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Ngọc Hàm. Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, mã số 62 22 02 41.

Về tính cấp thiết, tác giả xác định thế giới thực vật gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của con người, phản ánh đặc điểm tri nhận và văn hóa của mỗi dân tộc vào ngôn ngữ. Trong giới thực vật, hoa là sự kết tinh của cây cối, mang giá trị thẩm mỹ và biểu trưng cao. Hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc có vị trí địa lý liền kề, cùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới với thảm thực vật phong phú, hình thành nên lớp từ ngữ chỉ hoa đa dạng về số lượng, cấu trúc và ngữ nghĩa. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở trường từ vựng thực vật nói chung hoặc khảo sát hoa trong phạm vi hẹp ở một vài tác phẩm văn học cụ thể. Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là việc khảo sát toàn diện và có hệ thống về cấu trúc nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa của từ hoa và nhóm từ chỉ các loài hoa tiêu biểu trong tiếng Hán trong mối liên hệ đối chiếu với tiếng Việt trên cả bình diện đồng đại và lịch đại.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc điểm cấu trúc nghĩa và phương thức chuyển nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán, so sánh với tiếng Việt, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt, qua đó làm nổi rõ hàm ý văn hóa của người Trung Quốc và người Việt Nam thể hiện qua ý nghĩa của nhóm từ này.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm năm nội dung:

  1. Hệ thống hóa những nghiên cứu ở Trung Quốc và Việt Nam về từ chỉ thực vật nói chung và từ chỉ hoa nói riêng.
  2. Xác lập cơ sở lý thuyết để vận dụng vào nghiên cứu đề tài, bao gồm: lý thuyết về nghĩa của từ, cấu trúc nghĩa, nét nghĩa, phương thức chuyển nghĩa; phương pháp phân tích nghĩa và cấu trúc nghĩa của từ nói chung cũng như nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa của từ chỉ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt nói riêng.
  3. Phân tích ngữ nghĩa của từ hoa cũng như từ chỉ một số loài hoa điển hình trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  4. Chỉ ra đặc điểm phương thức chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ Hán và Việt.
  5. Đối chiếu nghĩa của những từ này trong tiếng Hán và tiếng Việt, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng.

Luận án tập trung giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu:

  1. Biểu hiện cụ thể về cấu trúc nghĩa cũng như cơ chế chuyển nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt tương ứng như thế nào?
  2. Những tương đồng và khác biệt về nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt cũng như sự tiếp biến Hán văn trong ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam như thế nào? Nguyên nhân của nó là gì?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là từ hoa và từ chỉ một số loài hoa tiêu biểu gồm đào, sen, mai, lan, cúc trong tiếng Hán và tiếng Việt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở bình diện ngữ nghĩa (cấu trúc nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa) của từ hoa và năm từ chỉ loài hoa nêu trên, kết hợp xem xét hàm ý văn hóa và tư duy liên tưởng của hai cộng đồng bản ngữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được tác giả phân chia theo hai không gian học thuật chính: Trung Quốc và Việt Nam.

Tại Trung Quốc, các công trình nghiên cứu trường từ vựng thực vật và hoa được chia thành bốn hướng chính:

  • Nghiên cứu nghĩa và cấu trúc nghĩa: Dương Trạch Dân (1994), Hứa Tái Phúc (1996), Ngô Châu (1998), Trần Tưởng Minh (2002), Đường Yến Bình (2002), Liêu Quang Dung (2002), Nhậm Thục Ninh (2006), Cát Tuấn Lệ (2010). Doãn Hồng (2004) tiếp cận hoa cỏ dưới góc độ thực vật học, văn học, văn hóa học gắn với phong tục và thẩm mỹ; Từ Tiểu Đình (2007) phân tích nghĩa ẩn dụ và hoán dụ của từ hoa và từ tộc hoa trong tiếng Hán; Đỗ Sảnh (2007) so sánh đối chiếu ngữ nghĩa trường từ vựng thực vật Hán - Anh gắn với thế giới quan và tư duy liên tưởng.
  • Nghiên cứu dưới góc độ văn hóa, thực vật học, văn học: Chu Vũ Trung (2008) nghiên cứu văn hóa hoa Trung Quốc trong tín ngưỡng và giao tiếp; Trần Trùng Minh (2004) trong chuyên luận "Thực vật và văn hóa dân tộc" khảo sát 14 loài thực vật chứa đựng ý nghĩa văn hóa và tập tục của các dân tộc thiểu số Trung Quốc.
  • Nghiên cứu so sánh đối chiếu tiếng Hán với các ngôn ngữ khác: Chung Đậu Mai (2009) so sánh từ ngữ hoa và cây Hán - Anh trong giao tiếp giao văn hóa; Dương Nguyên Cương và Trương An Đức (2003) so sánh từ ngữ chỉ màu sắc và thực vật Hán - Anh; Trương Vi (2008) và Tất Tú Anh (2004) đối chiếu ý nghĩa tượng trưng của thực vật Hán - Anh (Tất Tú Anh kết hợp tri thức thực vật học); Nhậm Tuyền Thanh (2007) phân tích sự sai biệt nội hàm văn hóa do khuyết thiếu không gian thực vật; Lý Xuyến (2004) xem xét ảnh hưởng của từ ngữ thực vật đến giao tiếp liên văn hóa; Trì Hiệu Nam (2014) so sánh từ ngữ chỉ hoa Hán - Anh; Dương Hải Yến (2013) khảo sát phương thức cấu tạo từ ngữ hoa cỏ Hán - Anh. Một số nghiên cứu hẹp khảo sát tác phẩm hoặc từ điển cụ thể như Vương Yến và Cừu Viên Viên (2015) nghiên cứu hoa trong "Hồng lâu mộng", Dương Thúy (2011) nghiên cứu định lượng về hoa trong "Từ điển tiếng Hán hiện đại".
  • Nghiên cứu ẩn dụ và nội hàm văn hóa theo hướng tri nhận: Hạ Kiến Vinh (2003), Hồ Tuệ Linh (2008) khảo sát ẩn dụ thực vật phục vụ dịch thuật Anh - Hán; Mạnh Lệnh Chất (2009) nghiên cứu nhóm "tuế hàn tam hữu" (mai, tùng, trúc); Vương Phác (2007) và Trần Ánh Nhung (2012) phân tích chuyển dịch từ miền nguồn thuộc tính tự nhiên sang miền đích trong ngôn ngữ; Võ Thị Mai Hoa (2012) bảo vệ luận án tiến sĩ tại Trung Quốc về so sánh ẩn dụ từ chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Hán; Chu Đức Diễm và Trương Thuần (2009) khảo sát ẩn dụ của hoa trong tiếng Hán cổ đại, hiện đại và tiếng Anh; Lý Vi Vi (2007) phân tích đa nghĩa của hoa; Bành Viên, Lý Hưng Khuê, Lý Thuận Cầm (2015) khảo sát ẩn dụ hoa và người theo quan niệm "thiên địa nhân nhất thể"; Ân Huề (2013), Chu Phượng Mai (2010), Vương Vân (2003) phân tích chuyển di phạm trù ngữ nghĩa của hoa giữa tiếng Hán và tiếng Anh.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu được ghi nhận gồm hai nhóm:

  • Nghiên cứu nghĩa biểu trưng và văn hóa: Phạm Ngọc Hàm (2013) nghiên cứu hoa và điểu song hành trong thơ luật Đường; Nguyễn Hữu Cầu (2004) nghiên cứu từ ngữ đất nước học (quế hòe, trúc mai, liên hoa...) phục vụ dạy tiếng Hán; Phan Thị Huyền Trang (2007) khảo sát liên tưởng nghĩa từ hoa trong "Truyện Kiều"; Hà Thị Quế Hương (2003) nghiên cứu giá trị biểu trưng hoa trong "Quốc âm thi tập" và "Truyện Kiều"; Nguyễn Thùy Vân (2013) và Trần Hạnh Nguyên (2012) khảo sát biểu tượng hoa đào và các loài hoa trong ca dao; Vũ Thị Tuyết (2018) nghiên cứu ngữ nghĩa từ ngữ chỉ thực vật và hoa trong ca dao tình yêu.
  • Nghiên cứu từ góc độ ẩn dụ tri nhận: Trần Thị Phương Lý (2008), Trần Thị Phương Lý và Nguyễn Thị Bạch Nhạn (2007), Trần Thị Phương Lý và Lê Thị Cẩm Vân (2011); Nguyễn Thị Bích Hạnh (2014) khảo sát ẩn dụ con người là cây cỏ trong ca từ Trịnh Công Sơn.

Vị trí của luận án được xác lập từ khoảng trống học thuật: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào cả trường thực vật nói chung, so sánh Hán - Anh hoặc Hán - Nga, hoặc khảo sát đơn lẻ trong tác phẩm văn học. Luận án của Lê Thị Kim Dung là công trình đối chiếu chuyên sâu về từ chỉ hoa giữa tiếng Hán và tiếng Việt, kết hợp giữa ngữ liệu văn bản học kinh điển và khẩu ngữ đời sống trên cả góc độ đồng đại và lịch đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các quan niệm ngữ nghĩa học:

  • Về nghĩa của từ: Luận án điểm lại lý thuyết ký hiệu học của Ferdinand de Saussure (cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nghĩa như một hiện tượng tâm lý) cùng sự phê phán của Nowell-Smith và Ludwig Wittgenstein đối với việc đánh đồng nghĩa với vật sở chỉ. Tác giả tổng hợp xu hướng coi nghĩa là thực thể tinh thần gắn với khái niệm của Nguyễn Văn Tu, P.V. Chesnokov; xu hướng coi nghĩa là quan hệ của P.S. Barkhudarov, Nguyễn Thiện Giáp (nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu, nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu gồm nghĩa khu biệt trên trục dọc và nghĩa cú pháp trên trục ngang), Vũ Đức Nghiệu (1990, nghĩa là liên hệ phản ánh mang tính quy ước). Luận án cũng tiếp thu quan điểm của các học giả Trung Quốc như Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông, Cát Bản Nghi phân chia nghĩa thành nghĩa gốc, nghĩa phái sinh (trực tiếp, gián tiếp) và nghĩa ví von. Luận án đặc biệt vận dụng mô hình hình tháp nghĩa của Đỗ Hữu Châu (đỉnh tháp là từ trừu tượng, đáy gồm bốn nhân tố: sự vật hiện tượng/tư duy, người sử dụng, chức năng tín hiệu học, cấu trúc ngôn ngữ; chia nghĩa thành nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái), quan niệm của Nguyễn Đức Tồn về ba phạm trù nhận thức nghĩa (nghĩa khách quan của từ, sự nhận thức chủ quan, khả năng diễn giải thành lời) và quan niệm của Lê Quang Thiêm (2008) về nghĩa như một thực thể tinh thần trừu tượng thực hiện chức năng qua văn cảnh. Trên cơ sở đó, luận án xác định: nghĩa của từ là sự phản ánh các sự vật vào trong ngôn ngữ thông qua nhận thức của con người dưới dạng tập hợp những đặc điểm, thuộc tính bản chất nhất, quan trọng nhất, đủ để nhận diện và phân biệt sự vật.
  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Luận án áp dụng phương pháp phân tích nghĩa vị thành các nét nghĩa đồng nhất và khu biệt để nhận diện cấu trúc nghĩa của từ và trường từ vựng. Tác giả minh họa thao tác phân tích qua bảng nét nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người:
Nét nghĩa Tay Chân Bụng
Bộ phận cơ thể người + + +
Hai bên thân + - -
Ở giữa thân - - +
Để cầm nắm + - -
Đỡ cho thân thể ở vị trí thẳng đứng hoặc di chuyển - + -
  • Quá trình và phương thức chuyển nghĩa của từ: Luận án phân tích sự biến đổi nghĩa theo mô hình móc xích và mô hình tỏa tia (trong đó tỏa tia chiếm ưu thế), xuất phát từ nhu cầu giao tiếp xã hội và nguyên lý tiết kiệm ngôn ngữ. Tác giả dẫn chứng từ "tay" với chín nghĩa từ vựng trong "Từ điển tiếng Việt" và từ "bông" đa nghĩa để phân biệt với trường hợp từ đồng âm đứt đoạn quan hệ ngữ nghĩa như từ "quà". Tác giả cũng phân biệt nghĩa từ vựng phái sinh ổn định với nghĩa chuyển lâm thời/tu từ qua ngữ cảnh ca dao đối chiếu giữa "hoa lý, hoa lài" (thanh cảnh, sang đẹp nhưng kém thích ứng) và "hoa khoai" (không thơm đẹp nhưng chịu được nắng mưa).
  • Về cơ chế chuyển nghĩa: Luận án sử dụng hai phương thức căn bản là ẩn dụ và hoán dụ. Ẩn dụ dựa trên nhận thức chủ quan về sự tương đồng giữa hai phạm trù khác nhau, được phân loại theo nét nghĩa phạm trù của Đỗ Hữu Châu (hình thức, vị trí, cách thức, chức năng, kết quả, chuyển đổi cảm giác). Hoán dụ dựa trên mối quan hệ logic, tương cận khách quan giữa hai thực thể đi đôi trong thực tế; luận án kế thừa hệ thống phân loại 16 kiểu quan hệ hoán dụ của Đỗ Hữu Châu (toàn thể - bộ phận, vật chứa - vật bị chứa, nguyên liệu - sản phẩm, đồ dùng - người dùng, dụng cụ - ngành nghề, vật chứa - lượng chất chứa, cơ quan - chức năng, tư thế - nguyên nhân, âm thanh - động tác, hoạt động - sản phẩm, hoạt động - công cụ, động tác tiêu biểu - quá trình sản xuất, nguyên liệu - hoạt động, sự vật - màu sắc, tính chất - sự vật).
  • Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa: Luận án tiếp cận định nghĩa văn hóa từ "Từ hải" và "Từ điển tiếng Việt" (Hoàng Phê), phân chia văn hóa thành ba tầng bậc (văn hóa vật chất ở bề mặt, thiết chế văn hóa ở tầng giữa, tâm lý văn hóa ở tầng sâu). Ngôn ngữ là một thành tố thuộc tầng thiết chế văn hóa, đồng thời là hệ thống ký hiệu ghi chép văn hóa và có quan hệ tương tác, chế ước hai chiều với văn hóa.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp:

  1. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa (phân tích thành tố nghĩa để xác định cấu trúc nghĩa và quy luật chuyển nghĩa).
  2. Phương pháp đối chiếu (đối chiếu từ với từ, cấu trúc nghĩa và phương thức chuyển nghĩa giữa tiếng Hán và tiếng Việt).
  3. Thủ pháp thống kê (khảo sát vị trí từ hoa trong ngữ cố định, tần số xuất hiện của năm loài hoa trong từ điển và tác phẩm văn học).

Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án được thống kê chi tiết trong văn bản:

Ngôn ngữ Nguồn từ điển Nguồn tác phẩm văn học và ngữ liệu điện tử
Tiếng Hán - Từ điển từ thường dùng trong tiếng Hán cổ (2012)
- Đại từ điển tiếng Hán (2002)
- Từ nguyên (1983)
- Từ hải (1979)
- Đại từ điển Thành ngữ (2004)
- Toàn Đường thi (1999)
- Toàn Tống từ (1965)
- Thi kinh toàn dịch (1990)
- Kho ngữ liệu Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh (BCC)
Tiếng Việt - Đại Nam Quấc Âm tự vị (1896)
- Việt Nam tự điển (1954)
- Từ điển Việt Nam phổ thông (1951)
- Việt Nam tân tự điển (1952)
- Từ điển tiếng Việt (2001)
- Kho tàng ca dao người Việt (1998)
- Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi)
- Truyện Kiều (Nguyễn Du, 2016)
- Kho ngữ liệu Vietlex và từ điển thành ngữ

Ngoài ra, tác giả còn thu thập ngữ liệu thực tế từ lời nói sinh hoạt hàng ngày trong cả hai ngôn ngữ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về trường từ vựng thực vật và từ chỉ hoa tại Trung Quốc và Việt Nam trên các bình diện: cấu trúc ngữ nghĩa, hàm ý văn hóa, ẩn dụ tri nhận và dịch thuật đối chiếu. Chương này xác lập khung lý thuyết nền tảng cho luận án, bao gồm bản chất nghĩa của từ, phương pháp phân tích thành tố nghĩa, quy luật và cơ chế chuyển nghĩa (phương thức ẩn dụ và hoán dụ theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp), mối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ và văn hóa ba tầng bậc, cùng nguyên lý đối chiếu ngôn ngữ học Hán - Việt.

Chương 2: Nghĩa của từ (hoa) trong tiếng Hán (liên hệ với nghĩa của từ hoa trong tiếng Việt)

Nội dung Chương 2 tập trung phân tích cấu trúc nghĩa, ngữ cố định và các phương thức chuyển nghĩa của từ hoa trong hai ngôn ngữ:

  • Cấu trúc nghĩa của từ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt: Luận án phân tích nghĩa gốc của từ hoa với tư cách là cơ quan sinh sản của thực vật hạt kín, sau đó xác định các nét nghĩa phái sinh. Tác giả lập Bảng 2.1 đối chiếu nghĩa của từ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt, cùng Sơ đồ 2.1 và Sơ đồ 2.2 thể hiện mối quan hệ giữa các nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ ở mỗi ngôn ngữ.
  • Từ hoa trong cấu tạo ngữ cố định: Tác giả thống kê và phân loại các ngữ cố định chứa từ hoa trong tiếng Hán qua Bảng 2.2 và trong tiếng Việt qua Bảng 2.3. Bảng 2.4 so sánh đối chiếu ngữ cố định có từ hoa giữa hai ngôn ngữ, chỉ ra vị trí ngữ pháp và vai trò cấu tạo thành ngữ, quán ngữ.
  • Sự chuyển nghĩa của từ hoa: Chương này phân tích chi tiết cơ chế chuyển nghĩa theo hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Ở phương thức ẩn dụ, từ hoa chuyển nghĩa để chỉ người phụ nữ đẹp, tuổi trẻ, cái đẹp hình thức, hoa văn trang trí, hoặc hiện tượng hoa mắt; trong tiếng Hán, từ hoa còn chuyển nghĩa sang động từ chỉ hành vi tiêu tốn tiền của, thời gian. Ở phương thức hoán dụ, từ hoa được dùng để gọi tên các thực thể có hình dáng tương cận như pháo hoa, bệnh đậu mùa, dấu hoa thị. Tác giả tổng hợp phạm vi chuyển nghĩa qua Bảng 2.5 cùng các sơ đồ mô tả phạm vi chuyển nghĩa trong tiếng Hán và tiếng Việt.

Chương 3: Nghĩa của một số từ chỉ hoa điển hình trong tiếng Hán (liên hệ với nghĩa của các từ tương đương trong tiếng Việt)

Chương 3 đi sâu nghiên cứu trường hợp năm từ chỉ năm loài hoa điển hình: đào, sen, mai, lan, cúc:

  • Cơ sở lựa chọn: Năm loài hoa này có tần số xuất hiện cao, mang đậm biểu trưng văn hóa, thẩm mỹ và đạo đức của người phương Đông.
  • Khảo sát thống kê: Luận án xây dựng Bảng 3.1 và Bảng 3.2 thống kê số lần xuất hiện mục từ của tên năm loài hoa trong "Từ điển tiếng Hán hiện đại" và "Từ điển tiếng Việt", minh họa bằng Biểu đồ 3.1 và Biểu đồ 3.2. Đồng thời, tác giả khảo sát tần số xuất hiện của tên năm loài hoa trong ngữ liệu văn học cổ điển tiếng Hán (Bảng 3.3) và tiếng Việt (Bảng 3.4).
  • Phân tích nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng của từng loài hoa:
    • Từ đào: Ngoài nghĩa thực vật, từ đào biểu trưng cho sắc đẹp của người phụ nữ, tình duyên lứa đôi ("đào hoa", "đào hoa vận", "số đào hoa"), sự trường thọ ("đào tiên") và không khí may mắn của mùa xuân. Nội dung đối chiếu được tổng hợp tại Bảng 3.5.
    • Từ sen: Biểu trưng cho sự thanh khiết, trong sạch, không bị vấy bẩn bởi môi trường sống ("gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", "xuất ứ nê nhi bất nhiễm"), gắn liền với biểu tượng tâm linh trong Phật giáo. Bảng 3.6 so sánh nghĩa biểu trưng của từ sen giữa hai ngôn ngữ.
    • Từ mai: Biểu trưng cho cốt cách thanh cao, phẩm hạnh kiên cường trước nghịch cảnh khắc nghiệt của mùa đông giá lạnh (thuộc bộ "tuế hàn tam hữu"), vẻ đẹp của người quân tử. Sự so sánh được trình bày trong Bảng 3.7.
    • Từ lan: Biểu trưng cho phẩm chất thanh nhã, kín đáo, sự khiêm nhường, tình bạn tri kỷ cao đẹp và hương thơm quý phái ("lan chất huệ tâm"). Kết quả so sánh thể hiện qua Bảng 3.8.
    • Từ cúc: Biểu trưng cho khí tiết thanh cao của bậc ẩn sĩ, ý chí kiên trinh trước sương gió mùa thu, sự trường thọ và bền bỉ. Luận án tổng hợp tại Bảng 3.9.

Chương này chỉ ra sự tiếp biến ngôn ngữ - văn hóa: tiếng Việt tiếp nhận các tầng nghĩa biểu trưng từ tiếng Hán qua con đường giao lưu tiếp xúc văn hóa, đồng thời bản địa hóa để phản ánh tâm thức, đời sống và môi trường sinh thái của người Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ đặc điểm tiếp biến văn hóa qua sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Công trình chỉ ra đặc điểm dân tộc của văn hóa và tư duy của người bản ngữ được phản chiếu qua ngôn ngữ, từ đó khẳng định vai trò của các nhân tố văn hóa và tư duy trong việc làm cơ sở cho đối chiếu ngôn ngữ học.

Về mặt thực tiễn, luận án vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa học vào việc phân tích, đánh giá nguồn ngữ liệu văn bản học kinh điển kết hợp với ngôn ngữ trong sinh hoạt thực tế. Công trình làm sáng tỏ con đường nhận thức của người Trung Quốc và người Việt Nam về từ hoa và năm từ chỉ loài hoa điển hình, chứng minh mệnh đề tiếp xúc Hán - Việt trên bình diện ngôn ngữ và văn hóa thể hiện tính kế thừa và phát triển.

Về mặt ứng dụng, kết quả nghiên cứu của luận án phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc với tư cách là ngoại ngữ. Tư liệu phân tích cung cấp cơ sở đối chiếu ngữ nghĩa hỗ trợ hoạt động phân tích, bình giảng tác phẩm văn học trong nhà trường và ứng dụng vào thực hành dịch thuật Hán - Việt. Tác giả kiến nghị khi giảng dạy và dịch thuật các ngữ cố định, thành ngữ có chứa tên loài hoa, cần đặt từ ngữ vào bối cảnh văn hóa dân tộc để giải mã chính xác các tầng nghĩa biểu trưng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở từ hoa và năm loài hoa tiêu biểu (đào, sen, mai, lan, cúc) trên bình diện ngữ nghĩa và văn hóa; chưa thể bao quát toàn bộ tiểu trường từ vựng các loài hoa phong phú trong hai ngôn ngữ. Nguồn ngữ liệu văn bản học chủ yếu tập trung vào một số bộ từ điển và tác phẩm văn chương cổ điển tiêu biểu; ngữ liệu khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày được khảo sát ở mức độ bổ trợ, chưa triển khai thành các cuộc điều tra xã hội ngôn ngữ học diện rộng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài có thể được mở rộng sang khảo sát các loài hoa khác mang đặc trưng sinh thái bản địa của Việt Nam và Trung Quốc, hoặc mở rộng sang các tiểu trường từ vựng thực vật khác như cây cối, rau củ, quả. Việc ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hoặc ngôn ngữ học tri nhận chuyên sâu để phân tích miền ý niệm và mô hình tri nhận không gian của từ chỉ thực vật cũng là hướng phát triển tiếp theo được gợi mở.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ học văn hóa, Hán ngữ học và Việt ngữ học.
  • Giáo viên giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam và tiếng Việt cho người nước ngoài, đặc biệt trong các học phần Từ vựng học, Ngữ nghĩa học và Giao tiếp giao văn hóa.
  • Dịch giả thực hành dịch thuật văn bản Hán - Việt và Việt - Hán, đặc biệt khi xử lý các thành ngữ, quán ngữ, thi liệu cổ điển có yếu tố thực vật.
  • Các nhà nghiên cứu văn học cổ điển Trung Quốc và Việt Nam quan tâm đến biểu tượng nghệ thuật của các loài hoa trong thơ Đường, Tống từ, ca dao và "Truyện Kiều".

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là hệ thống bảng đối chiếu ngữ cố định có từ hoa trong tiếng Hán và tiếng Việt (Chương 2) cùng các bảng so sánh nét nghĩa biểu trưng của năm loài hoa đào, sen, mai, lan, cúc (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án lựa chọn năm loài hoa cụ thể nào để phân tích đối chiếu chuyên sâu và vì sao? Tác giả lựa chọn năm loài hoa gồm đào, sen, mai, lan, cúc. Lý do lựa chọn là vì đây là năm loài hoa tiêu biểu, xuất hiện với tần số cao trong từ điển và văn học cổ điển của cả hai nước, đồng thời mang tải nhiều tầng nghĩa biểu trưng văn hóa, thẩm mỹ và nhân cách đạo đức phương Đông.

  2. Khung phân tích phương thức chuyển nghĩa của luận án dựa trên cơ sở phân loại của những tác giả nào? Luận án kế thừa quan điểm của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp và đặc biệt là hệ thống phân loại của Đỗ Hữu Châu. Trong đó, ẩn dụ được xem xét dựa trên nét nghĩa phạm trù (hình thức, vị trí, chức năng, cách thức, kết quả, chuyển đổi cảm giác) và hoán dụ được phân tích theo 16 cơ chế quan hệ logic khách quan.

  3. Nguồn ngữ liệu tiếng Hán và tiếng Việt của luận án được trích xuất từ những nguồn nào? Ngữ liệu được thu thập từ năm bộ từ điển tiếng Hán (Từ điển từ thường dùng trong tiếng Hán cổ, Đại từ điển tiếng Hán, Từ nguyên, Từ hải, Đại từ điển Thành ngữ), năm bộ từ điển tiếng Việt (Đại Nam Quấc Âm tự vị, Việt Nam tự điển, Từ điển Việt Nam phổ thông, Việt Nam tân tự điển, Từ điển tiếng Việt), các tác phẩm văn học cổ điển (Toàn Đường thi, Toàn Tống từ, Thi kinh toàn dịch, Kho tàng ca dao người Việt, Quốc âm thi tập, Truyện Kiều), kho ngữ liệu điện tử BCC, Vietlex và lời nói sinh hoạt đời thường.

  4. Sự khác biệt giữa nghĩa từ vựng phái sinh ổn định và nghĩa chuyển lâm thời được tác giả minh họa bằng ví dụ nào? Tác giả phân tích từ "tay" với chín nghĩa trong từ điển là nghĩa từ vựng phái sinh ổn định. Ngược lại, trong câu ca dao về "hoa lý, hoa lài" (chỉ cô gái đẹp, sang nhưng kém chịu đựng) và "hoa khoai" (chỉ cô gái không đẹp nhưng vững vàng trước hoàn cảnh), các nét nghĩa chuyển mang tính lâm thời, tu từ, chưa cố định hóa vào cơ cấu nghĩa từ vựng của từ.

  5. Kết quả nghiên cứu đóng góp gì cho công tác giảng dạy ngoại ngữ và dịch thuật? Nghiên cứu giúp người dạy và người học ngoại ngữ (tiếng Hán hoặc tiếng Việt) hiểu rõ bản chất cấu trúc nghĩa và con đường chuyển nghĩa của từ hoa, tránh lỗi chuyển di tiêu cực; đồng thời hỗ trợ người dịch nhận diện đúng hàm ý văn hóa và nghĩa biểu trưng của thành ngữ, điển cố chứa tên hoa để chuyển ngữ chính xác.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Thị Kim Dung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa của từ hoa và năm từ chỉ loài hoa tiêu biểu (đào, sen, mai, lan, cúc) trong tiếng Hán trong mối liên hệ đối chiếu với tiếng Việt. Tác giả đã vận dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa, phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học và thủ pháp thống kê ngữ liệu từ điển, văn bản học để làm rõ cấu trúc nghĩa và các phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối quan hệ hai chiều giữa ngôn ngữ và văn hóa, đồng thời làm sáng tỏ quy luật tiếp biến ngôn ngữ - văn hóa Hán - Việt. Công trình cung cấp nguồn tư liệu học thuật có giá trị ứng dụng cho nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu, giảng dạy ngoại ngữ và thực hành dịch thuật.