phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Trong chương này, chúng tôi tổng kết lại thành quả nghiên cứu có liên quan đến luận án. Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành khái quát hóa, xác lập các vấn đề lý luận có liên quan để làm cơ sở lý thuyết cho đề tài luận án. Chƣơng 2: Nghĩa của từ (hoa) trong tiếng Hán (có liên hệ với nghĩa của từ hoa trong tiếng Việt).
Trong chương này, chúng tôi tập trung phân tích cấu trúc nghĩa của từ (hoa) trong tiếng Hán, phân tích nghĩa của ngữ cố định có chứa từ (hoa) cũng như phương thức chuyển nghĩa của từ (hoa) trong tiếng Hán, trên cơ sở đó, liên hệ với tiếng Việt, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng. Chƣơng 3: Nghĩa của một số từ chỉ hoa điển hình trong tiếng Hán (có liên hệ với nghĩa của các từ tương đương trong tiếng Việt). Trong chương này, chúng tôi lựa chọn đào, sen, mai, lan, cúc để khảo sát, phân tích nghĩa gốc và nghĩa biểu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưng của chúng trong tiếng Hán và tiếng Việt, chỉ ra những điểm giống và khác nhau về nghĩa biểu trưng của các từ chỉ hoa này. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu hữu quan ở Trung Quốc về trường từ vựng thực vật và hoa Trường từ vựng thực vật là một trong những trường quan trọng trong trường từ vựng của mỗi ngôn ngữ. Giới ngôn ngữ học đã và đang nghiên cứu về trường từ vựng ở những góc độ khác nhau và phạm vi nghiên cứu cũng khác nhau. Đối với trường từ vựng thực vật, có những nghiên cứu mang tính khái quát, song cũng có những nghiên cứu chỉ chọn một số vấn đề, thậm chí là nghiên cứu tên một loài thực vật và đi sâu phân tích về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa, nhất là nghĩa ẩn dụ của tên gọi đó.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, đa số các nghiên cứu hữu quan không chỉ dừng lại ở cấu trúc nghĩa của từ chỉ thực vật, mà trên cơ sở các nghiên cứu đó, người ta rất chú trọng việc phân tích các nghĩa phái sinh, nhất là nghĩa ẩn dụ, trên cơ sở của nghĩa học, chỉ ra đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ và tư duy. Hướng nghiên cứu ngôn ngữ - nghĩa, văn hóa và những nghiên cứu đối chiếu các bình diện có liên quan Ngôn ngữ được tạo sinh để làm công cụ giao tiếp. Để có thể đảm trách vai trò là công cụ giao tiếp, ngôn ngữ phải thực hiện được chức năng của công cụ phản ánh. Nó phản ánh thế giới mà con người đang sống trong đó; nhưng phản ánh bằng nghĩa, bằng các ý niệm, chứ không phải bằng những tấm ảnh chụp rời rạc về từng (nhân) vật, sự kiện trong thế giới.
Bên cạnh đó, điều quan trọng không kém là: loài người tổ chức thành những cộng đồng có ngôn ngữ và văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) riêng; ngôn ngữ cũng phản ánh văn hóa của mỗi cộng đồng, với tất cả những điểm tương đồng mang tính toàn nhân loại và những nét riêng biệt cụ thể của mỗi cộng đồng đó. Trường từ vựng thực vật trong tiếng Hán là một trong những trường mang đậm sắc màu văn hóa dân tộc, với những đặc điểm nhận thức thể hiện qua tư duy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên tưởng của dân tộc Hán. Chính vì vậy, đa số các nghiên cứu về lĩnh vực này đều chú ý tới các nhân tố văn hóa dân tộc. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mặc dù trường nghĩa thực vật nói chung và tiểu trường nghĩa về hoa nói riêng có vị trí quan trọng trong hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Hán, nhưng cho đến nay, nghiên cứu về cấu trúc, ngữ nghĩa và ẩn dụ của từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Hán, nhất là nghiên cứu so sánh giữa các ngôn ngữ trong lĩnh vực này chưa nhiều, chủ yếu mới chỉ là so sánh Hán - Anh và Hán - Nga.
Ngoài những thành quả nghiên cứu được biên soạn thành sách, luận văn, luận án quy mô lớn ra, còn có rất nhiều bài viết được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành và Tập san trong Nhà trường. Các tác giả Trung Quốc phải kể đến trong lĩnh vực nghiên cứu này là Dương Trạch Dân ( ) (1994); Hứa Tái Phúc ( ) (1996); Ngô Châu ( ) (1998); Trần Tưởng Minh ( ) (2002); Đường Yến Bình ( ) (2002); Liêu Quang Dung ( ) (2002); Nhậm Thục Ninh ( ) (2006); Cát Tuấn Lệ ( ) (2010). Các nghiên cứu của họ về trường nghĩa thực vật đều tập trung vào ba phương diện nổi trội, có thể tóm tắt như sau: a) Nghiên cứu nghĩa và cấu trúc nghĩa trường từ vựng chỉ thực vật nói chung và chỉ hoa nói riêng. Theo hướng nghiên cứu này, cấu trúc của trường từ vựng chỉ thực vật trong đó có chỉ hoa, cấu trúc nghĩa của trường từ vựng này và cấu trúc nghĩa của từng từ ngữ chỉ cây, chỉ hoa được đặc biệt coi trọng.
Điều này là tất yếu, bởi đây là những vấn đề chìa khóa trong hướng tiếp cận nghiên cứu theo trường từ vựng - ngữ nghĩa. Những nghiên cứu có phân tích, đề cập vấn đề vừa nêu, có thể kể đến như Doãn Hồng ( : 2004), Từ Tiểu Đình ( : 2006), Đỗ Sảnh ( : 2007), Cát Tuấn Lệ ( : 2010). Doãn Hồng ( : 2004) đã nhìn nhận hoa cỏ dưới nhiều góc độ, như thực vật học, văn học, văn hóa học, chỉ ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với nhau; qua đó tác giả còn đề cập đến những vấn đề thuộc văn hóa tinh thần có liên quan đến quan niệm về hoa cỏ của người Trung Quốc như tín ngưỡng dân gian, tư tưởng, tình cảm, phong tục tập quán cũng như đặc điểm thẩm mỹ… Từ Tiểu Đình ( : 2007) với bài viết ―Phân tích nghĩa ẩn dụ và hoán dụ của từ „hoa‟ và từ tộc „hoa‟ trong tiếng Hán‖ ( ― ‖ ― ‖ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ) đã khảo sát sơ bộ về mặt cấu trúc và loại hình ngữ nghĩa của nhóm từ này trong tiếng Hán. Trong khuôn khổ một bài báo khoa học, vấn đề lại được nhìn nhận từ hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa nên nghiên cứu mới chỉ dừng ở những phân tích bước đầu, chưa đạt đến độ sâu cần thiết.
Đỗ Sảnh ( : 2007) đã tiến hành so sánh đối chiếu và phân tích khá chi tiết những điểm khác nhau về phương diện ngữ nghĩa của trường từ vựng thực vật giữa tiếng Hán và tiếng Anh. Từ nền tảng ngôn ngữ, tác giả làm nổi rõ thế giới quan, nhân sinh quan, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo cũng như đặc điểm tư duy liên tưởng… của hai dân tộc trong bối cảnh lịch sử, xã hội khác nhau. b) Nghiên cứu các từ và nghĩa của từ dưới góc độ văn hóa và các góc độ khác như thực vật học, văn học. Theo hướng nghiên cứu này, nghĩa của từ hoa bằng các phép ẩn dụ, hoán dụ, gắn liền với đời sống văn hóa, văn học, tín ngưỡng, tôn giáo, thẩm mỹ đều được coi trọng, vừa với tư cách là đối tượng nghiên cứu, vừa với tư cách là những cơ sở tồn tại của nhau, giải thích cho nhau và vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành.
Đây là một phức hệ gồm những hệ hình (paradigm) khác biệt nhưng lại có thể quy chiếu lẫn nhau, thậm chí chế định giá trị (giá trị thẩm mỹ, văn chương, tín ngưỡng, tôn giáo. giá trị đời sống vật chất. Trong số những nghiên cứu mà chúng tôi đã được tiếp cận, tham khảo, có thể kể đến Chu Vũ Trung ( : 2008), Trần Trùng Minh ( : 2004). Chu Vũ Trung ( : 2008) tập trung nghiên cứu về văn hóa hoa của Trung Quốc mà không tập trung vào góc độ ngôn ngữ.
Qua khảo sát, tác giả cố gắng làm rõ nét văn hóa tín ngưỡng cũng như văn hóa giao tiếp có liên quan đến các loài hoa của người Trung Quốc và khẳng định về một nét văn hóa hoa trong tổng thể văn hóa dân tộc Trung Hoa. Nghiên cứu chỉ xét riêng về góc độ văn hóa của hệ thống thực vật là nghiên cứu của Trần Trùng Minh ( : 2004) với chuyên luận ―Thực vật và văn hóa dân tộc‖ ( ). Tác giả đã khảo sát tới 14 loài thực vật có hàm chứa ý nghĩa văn hóa cao, làm nổi rõ tập tục văn hóa và sự sùng bái thế giới thực vật của các dân tộc thiểu số Trung Quốc. Tuy đây là công trình nghiên cứu chuyên về văn hóa, nhưng với tính chất và quy mô của nó, cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị gợi mở cho những nghiên cứu liên quan đến trường thực vật dưới góc độ ngôn ngữ học.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com c) Nghiên cứu so sánh, đối chiếu tiếng Hán với ngôn ngữ khác hoặc ngôn ngữ khác với tiếng Hán về từ ngữ chỉ thực vật, chỉ hoa. Đây chính là hướng nghiên cứu so sánh đối chiếu (với mức độ chính danh ít nhiều có khác nhau) trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ thực vật, chỉ hoa giữa tiếng Hán với một ngôn ngữ nào đó (chủ yếu là tiếng Anh). Trong hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích cấu trúc của trường từ ngữ chỉ thực vật đặc biệt là chỉ hoa, cấu trúc nghĩa của trường từ vựng thực vật, cấu trúc nghĩa của từ chỉ hoa., lấy xuất phát điểm là tiếng Hán, hoặc là tiếng Anh, để so sánh, đối chiếu, chỉ ra những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời làm nổi rõ hàm ý văn hóa của trường từ vựng này và chỉ ra nguyên nhân dẫn tới những tương đồng và khác biệt đó. Chung Đậu Mai ( : 2009), Dương Nguyên Cương, Trương An Đức ( , : 2003), Trương Vi ( : 2008), Lý Xuyến ( : 2004), Tất Tú Anh ( : 2004), Nhậm Tuyền Thanh ( : 2007)… là những tác giả đã có những nghiên cứu theo hướng này.
Chung Đậu Mai ( : 2009) với bài viết ―Phân tích sự khác nhau của từ ngữ chỉ hoa và cây trong tiếng Hán và tiếng Anh‖ ( ). Tác giả đã bàn về vấn đề giao tiếp giao văn hóa có liên quan. Bài viết đã chỉ ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, từ đó bước đầu chỉ ra ý nghĩa của hoa trong văn hóa giao tiếp.