Chương 1: Cơ sở lý luận về sự khác biệt năng suất lao động Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh nghiệp trong nƣớc và các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở các tỉnh miền Trung Chương 4: Bàn luận kết quả và hàm ý chính sách Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm năng suất lao động Năng suất là thƣớc đo mức độ hiệu quả do con ngƣời và các đơn vị sản xuất (doanh nghiệp) chuyển đổi nguồn lực sản xuất (ví dụ nhƣ lao động và vốn) để tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Trong số các phƣơng pháp đo lƣờng năng suất nhƣ năng suất đa yếu tố hoặc năng suất vốn, năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích kinh tế và thống kê của một quốc gia.
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả sử dụng lao động, đặc trƣng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động sẻ sản xuất ra nó. Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lƣợng ngƣời lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay. Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lƣợng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lƣợng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, đơn vị sản xuất, hay của một phƣơng thức sản xuất, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Luan van 11 Theo Các Mác thì năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thể có ích”. Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con ngƣời trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao động phản ánh hiệu quả sử dụng lao động sống trong một đơn vị thời gian lao động hoặc bằng lƣợng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. [1] Theo khái niệm cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực.
Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, nên trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố đƣợc coi trọng nhất. Ở giai đoạn này, ngƣời ta thƣờng hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động. Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác nhƣ vốn, năng lƣợng và nguyên vật liệu cũng đƣợc xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp. Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn”. Đây là thời điểm Adam Smith và Federick Taylor tập trung vào việc phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hóa các phƣơng pháp làm việc tốt nhất để đạt đƣợc hiệu suất làm việc cao hơn. Tuy nhiên, quan điểm năng suất nhƣ vậy mới chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đó chỉ là một khía cạnh của năng suất. Quan niệm truyền thống về năng suất chủ yếu là hƣớng vào đầu vào, tập trung hƣớng vào các yếu tố đầu vào nhƣ lao động, vốn trong đó lao động sống là yếu tố trung tâm.
Vì vậy, ở nhiều nƣớc, nhiều khi ngƣời ta đồng nhất năng suất với năng suất lao động. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong nhiều năm đã đƣa ra quan điểm tiến bộ hơn về năng suất, đó là việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực: Luan van 12 vốn, đất đai, nguyên vật liệu, năng lƣợng, thông tin, và thời gian chứ không chỉ bó hẹp trong yếu tố lao động. Nhƣng nếu chỉ dừng ở quan điểm nhƣ vậy thì năng suất chỉ xét đến các yếu tố đầu vào mà chƣa đề cập đến giá trị đầu ra. Mà đầu ra là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế nhƣ hiện nay.
Năng suất lao động do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất châu Âu đƣa ra: Năng suất lao động là một trạng thái tƣ duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con ngƣời có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phƣơng pháp mới.
Đó là sự tin tƣởng chắc chắn trong quá trình tiến triển của con ngƣời. Theo quan điểm tiếp cận mới thì định nghĩa năng suất theo đúng bản chất đƣợc hiểu một cách hết sức đơn giản. Nó là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào đƣợc sử dụng để hình thành đầu ra đó. Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phƣơng thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào.
Thuật ngữ đầu vào, đầu ra đƣợc diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trƣờng kinh tế – xã hội. Đầu ra thƣờng đƣợc gọi với những cụm từ nhƣ tập hợp các kết quả. Đối với các doanh nghiệp, đầu ra đƣợc tính bằng tổng giá trị sản xuất – kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lƣợng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô thƣờng sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất.
Đầu vào trong khái niệm này đƣợc tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra nhƣ lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lƣợng, kỹ năng quản lý. Luan van 13 Nhƣ vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra. Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ.
Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng đƣợc với những thách thức của môi trƣờng cạnh tranh và những mong đợi của xã hội. Trong nền kinh tế thị trƣờng, năng suất đƣợc gắn chặt với các hoạt động kinh tế. Nó đƣợc hiểu là làm sao để tạo ra nhiều đầu ra hơn với lƣợng đầu vào hạn chế. Cải tiến năng suất cho phép tăng trƣởng kinh tế, nâng cao mức sống cho xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, nó làm cho khả năng cạnh tranh đƣợc tăng lên thông qua việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tạo ra nhiều đầu ra hơn. Cải tiến năng suất còn có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội với cách hiểu tạo ra nhiều của cải hơn, thu nhập cao hơn và chất lƣợng cuộc sống đƣợc cải thiện tốt hơn. Năng suất còn đƣợc hiểu là một tƣ duy hƣớng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức biến mong muốn thành các hành động cụ thể. Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vƣơn tới sự tốt đẹp hơn.
Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Điều này có thể thực hiện đƣợc nhờ vào các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỷ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng nhƣ việc quản lý công việc tốt hơn, phƣơng pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt đƣợc sản phẩm và dịch vụ chất lƣợng cao, thị phần lớn hơn và mức sống cao hơn. Nhƣ vậy, với quan niệm truyền thống, năng suất lao động chỉ thuần túy thể hiện mối tƣơng quan giữa “đầu ra” và “đầu vào”. Nếu đầu ra lớn hơn đạt Luan van 14 đƣợc từ một đầu vào thì có thể nói năng suất lao động cao hơn.
Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lƣợng. Còn theo quan niệm mới thì năng suất lao động đƣợc hiểu rộng hơn, đó là tăng số lƣợng sản xuất đồng thời với tăng chất lƣợng đầu ra. Điều này có nghĩa là sử dụng một lƣợng lao động để sản xuất một khối lƣợng lớn mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lƣợng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất. Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năng suất và chất lƣợng đƣợc xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất lƣợng ngƣời ta phải hy sinh chất lƣợng.
Nhƣng ngày nay, năng suất và chất lƣợng đã trở thành đồng hƣớng thống nhất với nhau. Năng suất lao động cao phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có các đặc tính kinh tế kỹ thuật và chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và những đòi hỏi của xã hội, bảo vệ môi trƣờng, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất. Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: Năng suất lao động là hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian. Tăng năng suất lao động không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lƣợng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa năng suất – chất lƣợng – cuộc sống – việc làm và sự phát triển bền vững.
Phân loại năng suất lao động Năng suất lao động có thể đƣợc chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, thông thƣờng ngƣời ta chia ra làm hai loại là: năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.