Chương 1 giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và hạn chế cua đề tài. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, nguồn lực, năng lực động của doanh nghiệp, một số nghiên cứu trước đó và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định trang đo và mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết đề ra. Chương 4 trình bày phương pháp phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5 đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và nuôi dưỡng năng lực cạnh tranh động cùng với các hạn chế của nghiên cứu. 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm và cơ sở lý thuyết 2.1 Cạnh tranh và một số lý thuyết về cạnh tranh Trong tác phẩm của GS.TS Đoàn Thị Hồng Vân (2011) đã tổng hợp được một số khái niệm về cạnh tranh: Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Theo Các Mác, “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Paul Samuelson cho rằng, “cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường”.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa “ cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Micheal Porter (1985), cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. 6 Quan điểm của tổ chức công nghiệp IO (Industrial Organization) tập trung vào cơ cấu lực lượng trong một ngành, môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp và ảnh hưởng của chúng tới lợi thế cạnh tranh.
Cũng có nghĩa là hiệu quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu ngành mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau. Cơ cấu ngành quyết định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và điều này sẽ tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngành (Barney 1986; Porter 1981). Như vậy, mô hình cạnh tranh trong tổ chức công nghiệp được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh của ngành, còn gọi là mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance Paradigm). Mô hình này giúp phân tích hiệu quả kinh doanh của ngành và nhận dạng tiềm năng của từng ngành kinh doanh (các ngành khác nhau có hiệu quả kinh doanh khác nhau).
Tuy nhiên, do đơn vị phân tích trong lý thuyết IO là ngành nên không thể sử dụng nó để phân tích và so sánh hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp khác nhau trong cùng ngành. Porter (1980, 1985) có lẽ là người tiên phong trong việc ứng dụng lý thuyết IO trong xây dựng chiến lược, đặc biệt là mô hình 5 tác lực cạnh tranh. Mô hình 5 tác lực cạnh tranh nắm bắt được ý tưởng chính về lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter, 5 tác lực cạnh tranh xác định những quy luật cạnh tranh trong bất cứ ngành công nghiệp nào. Mục đích của việc phân tích cấu trúc ngành là nhằm xác định những nhân tố then chốt cho cạnh tranh thành công, cũng như nhận ra các cơ hội và mối đe dọa là gì? Chìa khoá thành công nằm ở khả năng khác biệt của doanh nghiệp trong việc giải quyết mối quan hệ với các tác lực cạnh tranh đó.
Bên cạnh đó cũng cần phải xem xét và phân tích môi trường vĩ mô nhằm xác định những nhân tố quan trọng về phía chính phủ, xã hội, chính trị, tự nhiên và công nghệ để nhận diện các cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp. Mô hình này được sử dụng rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của ngành. Kinh tế học Chamberlin bắt đầu bằng cách tập trung vào khả năng cụ thể và các nguồn lực độc đáo, riêng có của từng cá thể doanh nghiệp. Qua đó, cạnh tranh trong nội bộ ngành công nghiệp dựa trên sự khác biệt của các doanh nghiệp.
Điều 7 này là nguồn gốc tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Chamberlin (1933), sự khác biệt trong việc thực thi các chiến lược của các công ty bao gồm: kiến thức, độ biết nhận thức thương hiệu như thế nào, danh tiếng, và khả năng phối hợp làm việc giữa người quản lý và nhân viên với nhau. Theo Barney (1986), sự khác biệt giữa các kỹ năng và khả năng kiểm soát có thể dẫn đến sự khác biệt về lợi nhuận trong việc thực thi các chiến lược. Do đó, chiến lược của công ty đóng một vai trò quan trọng thông qua việc sử dụng hiệu quả tài nguyên nội lực để thành công, trong đó có nguồn tài nguyên con người khác biệt.
Kinh tế học Schumpeter (1942) nhấn mạnh về quá trình biến động thị trường trong các hình thái khác nhau. Các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh của mình thông qua khả năng khám phá và những hành động cạnh tranh sáng tạo. Qua đó, trường phái Schumpeter cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của tri thức và việc không ngừng học hỏi của doanh nghiệp để thích nghi tại các thị trường năng động, đầy tính cạnh tranh. Để thành công và tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt, các doanh nghiệp phải không ngừng đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời kiến tạo ra tri thức mới để làm thay đổi nhận thức của thị trường.
Với cách nhìn nhận thị trường ở dạng động, tuy rằng đơn vị phân tích của trường phái Schumpeter là ngành và nền kinh tế (Barney, 1986), trường phái cạnh tranh này là một cơ sở cho lý thuyết về năng lực động của doanh nghiệp.2 Lý thuyết về nguồn lực (RBV) Nguồn lực của doanh nghiệp có thể được chia thành hai nhóm: Hữu hình (nguồn lực tài chính, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, nhà xưởng, nguyên vật liệu đầu vào.) và Vô hình (bí quyết công nghệ, danh tiếng công ty/sản phẩm, thương hiệu, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực. Nguồn lực về công nghệ bao gồm sở hữu trí tuệ, bằng phát minh, sáng chế. Nguồn lực về danh tiếng bao gồm việc sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng về dịch vụ, chất lượng, độ tin cậy, thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, chính quyền. Nguồn lực về nhân sự bao gồm kiến thức và kỹ năng của nhân viên, khả năng của 8 nhân viên thích ứng với sự linh hoạt trong các chiến lược, lòng trung thành của nhân viên.
Bằng cách tập trung vào phân tích năng lực cạnh tranh dựa trên các yếu tố nội lực của doanh nghiệp, Wernerfelt (1984) đã xác định nguồn lực của các công ty là hoàn toàn không giống nhau. Chúng được hình thành dựa trên thương hiệu, sự nội hóa kiến thức, nguồn nhân viên có tay nghề, quy trình làm việc, máy móc, thiết bị, nguồn vốn v.v… Lý thuyết về nguồn lực cho rằng nguồn lực của doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lý thuyết này dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp thường sử dụng các chiến lược cạnh tranh khác nhau. Và, những chiến lược này không thể dễ dàng sao chép bởi các doanh nghiệp khác vì nó được xây dựng dựa vào chính nguồn lực của mỗi doanh nghiệp.
Hẳn nhiên, nguồn lực này được tạo ra bởi yếu tố “con người”. Lý thuyết nguồn lực có nhiều điểm tương đồng với những lý thuyết cạnh tranh đã đề cập. Một là, sự khác biệt của doanh nghiệp trong mô hình Chamberlin, IO và Schumpeter là cơ sở cho lý thuyết nguồn lực của doanh nghiệp (Barney 1986; Grimm & ctg 2006). Tuy nhiên, giống với mô hình Chamberlin và IO, lý thuyết nguồn lực dựa trên sự cân bằng, không tập trung vào quá trình động của thị trường (Jacobson 1992) (Trích bởi Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2010).
Lý thuyết về nguồn lực của Barney (1991) được phát triển trên nền tảng lý thuyết của Chamberlin, với sự trọng tâm hướng về các khác biệt trong bí quyết công nghệ, năng lực quản trị, các bản quyền về sản phẩm, thương hiệu của doanh nghiệp. Những nhà nghiên cứu theo trường phái lý thuyết này đều cho rằng không có sự đồng nhất về các nguồn lực mà các doanh nghiệp đang sở hữu, tức là lợi thế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là hoàn toàn khác nhau. Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra khi doanh nghiệp sở hữu các nguồn lực riêng có, sử dụng chúng cho việc phát triển các năng lực độc đáo mà các đối thủ cạnh tranh không thể có hoặc khó có thể thay thế hay bắt chước được. Nguồn lực có thể 9 trở thành năng lực động và tạo ra lợi thế cạnh tranh là những nguồn lực thỏa mãn 4 tiêu chí sau: có giá trị, hiếm, khó thay thế và khó bắt chước, được gọi tắt là VRIN (Valuable, Rare, Inimitable, Non-subsititutable).3 Lý thuyết về năng lực động của doanh nghiệp Lý thuyết về nguồn lực liên tục được phát triển đặc biệt nó được mở rộng trong thị trường động và hình thành nên lý thuyết năng lực động.
Theo Teece (1997) năng lực động của doanh nghiệp được định nghĩa là khả năng tích hợp, xây dựng và cấu thành các năng lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để ứng phó với những thay đổi nhanh chóng của môi trường. Năng lực động nhắm đến việc cung cấp một khung chặt chẽ mà có thể tích hợp khái niệm đang tồn tại và những kiến thức thực tiễn để tạo thuận lợi cho những quyết định. Nhìn chung, năng lực động nhấn mạnh đến sự phát triển của năng lực quản lý, khó có thể bắt chước kết hợp ở góc độ tổ chức, hình thành nên những kỹ năng mang tính riêng có cũng như về mặt công nghệ.