CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Công ty cho thuê tài chính Công ty CTTC là một định chế tài chính phi ngân hàng thực hiện việc tài trợ tín dụng trung và dài hạn dưới hình thức máy móc, thiết bị và các động sản theo yêu cầu của bên thuê[6]. Công ty CTTC là một TCTD phi ngân hàng với chức năng sử dụng vốn tự có, huy động và các nguồn vốn khác để tài trợ cho thuê dưới dạng máy móc thiết bị và các động sản, cung ứng các dịch vụ về tài chính và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không nhận tiền gửi dưới một năm[8].
Ở Việt Nam, công ty CTTC chủ yếu do các NHTM thành lập nhằm hỗ trợ vốn cho các DNNVV muốn đổi mới công nghệ nhưng không có khả năng tiếp cận vốn của các NHTM[10]. Theo Nghị định số 95/2008/NĐ-CP, công ty CTTC là một TCTD phi ngân hàng, là pháp nhân Việt Nam; được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới 3 hình thức: công ty CTTC trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty CTTC trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty CTTC cổ phần. Công ty CTTC liên doanh là công ty CTTC được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của bên Việt Nam và bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Công ty CTTC liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
2 Công ty CTTC 100% vốn nước ngoài là công ty CTTC được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu của một hoặc một số TCTD nước ngoài và được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Ngoài ra, công ty CTTC liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài muốn hoạt động hợp pháp phải được tổ chức có thẩm quyền cho phép hoạt động CTTC tại Việt Nam; có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn, trừ trường hợp Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và nước nguyên xứ có quy định khác. Việc chuyển nhượng phần vốn góp của các bên trong các công ty CTTC được thực hiện theo các quy định của pháp luật và theo hướng dẫn của NHNN Việt Nam. Vì thế, một công ty được coi là công ty trực thuộc của công ty CTTC nếu đáp ứng một trong các điều kiện: Có trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành thuộc sở hữu của CTTC; việc bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hội đồng quản trị và tổng giám đốc của công ty thuộc quyền quyết định của công ty CTTC[33].
Các sản phẩm dịch vụ của công ty cho thuê tài chính 1. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ của công ty cho thuê tài chính Cũng giống như bất cứ các ĐCTC khác, công ty CTTC là một ĐCTC nên các đặc điểm về sản phẩm, dịch vụ của công ty CTTC chứa đựng những đặc điểm của các sản phẩm, dịch vụ tài chính của các ĐCTC nói chung. Sản phẩm, dịch vụ tài chính là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ[16]. + Tính vô hình: Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất 3 lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. + Tính không đồng nhất: Đặc tính này còn gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ… Đặc tính này của dịch vụ làm cho khó tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giống như là đối với sản phẩm chế tạo.
+ Tính không thể tách rời: Trong ngành dịch vụ, cung ứng thường được thực hiện cùng một lúc với tiêu thụ. Do đó, nhà cung cấp khó che giấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì nó không có khoảng cách thời gian từ sản xuất tới tiêu thụ như sản phẩm hữu hình. + Tính không lưu giữ: Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Tính không lưu giữ của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định.
Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. + Không thể hoàn trả: Nếu khách hàng không hài lòng về dịch vụ cung ứng, khách hàng có thể được hoàn tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ. + Nhu cầu bất định: độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn rất nhiều so với sản phẩm hữu hình. + Quan hệ cá nhân: Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa con người hơn sản phẩm hữu hình vì dịch vụ do con người thực hiện.
+ Tính cá nhân: Khách hàng thường đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình. + Tâm lý: Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng. Các sản phẩm dịch vụ của công ty cho thuê tài chính Trong hoạt động kinh doanh của mình các công ty CTTC thực hiện các dịch vụ sau: + Huy động vốn Để có nguồn vốn hoạt động các công ty CTTC thực hiện việc huy động vốn từ các nguồn sau: - Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo các quy định của pháp luật; - Phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác có kỳ hạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được cơ quan quản lý chấp thuận; - Vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; - Nhận các nguồn vốn khác theo quy định của NHNN. + Cho thuê tài chính Đây là nghiệp vụ chủ chốt của các công ty CTTC và nó xuyên suốt quá trình hoạt động và phát triển của công ty.
Đối tượng cho thuê: Tất cả các tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình, gồm: - Cá nhân, hộ gia đình; - Công ty; - Các tổ chức khác thuộc đối tượng vay của các tổ chức tín dụng. 5 Tài sản cho thuê bao gồm phương tiện vận chuyển; Máy móc, thiết bị thi công; Dây chuyền sản xuất; Thiết bị gắn liền với bất động sản; Các động sản khác không bị pháp luật cấm. Điều kiện để được thuê tài chính là: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; Có dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ đời sống khả thi và hiệu quả; Có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán đầy đủ tiền thuê trong thời hạn đã cam kết; Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền thuê tài chính; Tại thời điểm thuê tài chính, bên thuê không còn nợ xấu nội bảng tại bất cứ TCTD nào, không còn nợ đã được xử lý rủi ro bằng nguồn vốn dự phòng của bất kỳ TCTD nào đang hạch toán ngoại bảng. Giá trị tài sản cho thuê bao gồm giá mua và các chi phí có liên quan để hình thành tài sản cho thuê.
+ Mua và cho thuê lại Mua và cho thuê lại là việc công ty CTTC mua tài sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho thuê lại chính tài sản đó theo hình thức cho thuê tài chính để bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình. Tài sản mua và cho thuê lại giống như tài sản cho thuê tài chính bao gồm: - Phương tiện vận chuyển; - Máy móc, thiết bị thi công; - Dây chuyền sản xuất; - Thiết bị gắn liền với bất động sản; - Các động sản khác không bị pháp luật cấm. 6 Giá mua tài sản cho thuê được xác định phù hợp với quy định của pháp luật về mua bán tài sản. + Các dịch vụ khác - Bán các khoản phải thu.
Bán các khoản phải thu từ Hợp đồng CTTC là việc công ty CTTC bán khoản phải thu (số tiền mà bên thuê còn phải trả cho công ty theo Hợp đồng CTTC) cho bên mua là các nhà đầu tư, gồm: các tổ chức hoạt động tại Việt Nam, cá nhân cư trú tại Việt Nam. - Cho thuê vận hành. Là hình thức Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của công ty CTTC trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản. - Hoạt động ngoại hối.
Công ty CTTC thực hiện các hoạt động về ngoại hối theo quy định của pháp luật, như mua bán ngoại tệ, huy động, cho thuê tài chính và cung ứng các dịch vụ bằng đồng ngoại tệ. - Cho vay vốn lưu động bên thuê. Công ty CTTC sẽ cho bên thuê tài sản vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động trong quá trình hoạt động kinh doanh. - Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính.
- Thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính. - Các nghiệp vụ khác như tham gia đấu thầu tín phiếu kho bạc, mua, bán trái phiếu Chính phủ. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Khái niệm Năng lực được hiểu là khả năng đủ để làm một công việc nào đó; hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó[11].
Theo Michael Porter thì năng lực được hiểu là khả năng làm tốt nhất một việc nào đó, khả năng kinh doanh có hiệu quả nhất trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói cách khác, có thể diễn đạt năng lực là sở trường, là thế mạnh của công ty. Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực chất xám, ở đây không thể hiểu bằng số lượng hay bằng cấp của lực lượng nhân sự, mà phải hiểu là khả năng, kỹ năng của những nhân sự đó[19].