Luận văn: Nghiên cứu véc tơ sốt rét và phun tồn lưu tại Pa Ủ, Lai Châu

Luận văn nghiên cứu thành phần muỗi Anopheles, đánh giá độ nhạy cảm hóa chất và hiệu quả biện pháp phun tồn lưu chống véc tơ sốt rét tại Lai Châu.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Sinh học

2023

65
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về muỗi Anopheles và bệnh sốt rét

Bệnh sốt rét là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất trên thế giới, gây ra bởi ký sinh trùng Plasmodium và được lan truyền chủ yếu qua các loài muỗi Anopheles. Theo dữ liệu năm 2019, ước tính có khoảng 229 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét toàn cầu, với gần 409.000 ca tử vong. Trẻ em dưới 5 tuổi đặc biệt dễ bị ảnh hưởng, chiếm đến 67% ca tử vong. Tỉnh Lai Châu, vùng núi phía Bắc Việt Nam, là một trong những địa bàn có tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cao. Việc nghiên cứu thành phần loài muỗi Anopheles tại các vùng có dịch là rất quan trọng để xây dựng các chiến lược phòng chống hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam

Sốt rét vẫn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe công cộng toàn cầu. Các nước châu Phi, châu Á có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Ở Việt Nam, véc tơ sốt rét chủ yếu là các loài muỗi Anopheles từng được coi là nguy hiểm nhất. Hiện nay, thông qua các biện pháp phòng chống, bệnh sốt rét ở nước ta đã được kiểm soát tốt hơn, nhưng vẫn còn xuất hiện tại các vùng núi cao và vùng biên giới.

1.2. Đặc điểm sinh học của muỗi Anopheles

Muỗi Anopheles là loài muỗi có đặc điểm hình thái riêng biệt, thường hoạt động vào buổi tối. Chúng phân bố ở nhiều môi trường khác nhau, từ vùng núi cao đến vùng đồng bằng. Các loài Anopheles maculatusAnopheles minimus được xác định là những véc tơ chủ yếu truyền bệnh sốt rét tại Lai Châu, có khả năng sinh sản cao và khó khống chế.

II. Phương pháp điều tra và đánh giá độ nhạy cảm

Nghiên cứu về muỗi Anopheles tại xã Pa Ủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu được thực hiện từ năm 2020-2021 với các phương pháp khoa học tiên tiến. Việc đánh giá độ nhạy cảm với hóa chất của véc tơ sốt rét là bước quan trọng trong việc lựa chọn thuốc phun tồn lưu hiệu quả. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành điều tra muỗi tại thực địa, thu mẫu từ các nhà ở, và tiến hành các phép thử sinh học trên vách nhà. Kết quả cho thấy tình hình kháng thuốc của muỗi Anopheles ở khu vực này cần được theo dõi kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp phòng chống phù hợp.

2.1. Phương pháp điều tra thực địa

Các nhà nghiên cứu sử dụng những công cụ bắt muỗi tiêu chuẩn, bao gồm cốc hít, bẫy muỗi để thu thập mẫu muỗi Anopheles tại các bản làng. Sau đó, các mẫu được mang về phòng thí nghiệm để phân loài, đếm mật độ và lưu giữ để phục vụ các công việc kiểm định khác.

2.2. Phép thử nhạy cảm với thuốc diệt côn trùng

Độ nhạy cảm hóa chất của muỗi được đánh giá thông qua các phép thử sinh học tiêu chuẩn. Các mẫu muỗi được tiếp xúc với các chất hoạt động của pyrethroid, organophosphate trong những điều kiện kiểm soát. Tỷ lệ chết sau 24-48 giờ được ghi nhận để xác định mức độ kháng thuốc.

III. Hiệu lực phun hóa chất tồn lưu chống véc tơ sốt rét

Hiệu lực biện pháp phun tồn lưu là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả của các hoạt động phòng chống sốt rét tại cấp xã. Tại xã Pa Ủ, các nhà chức trách đã tiến hành phun hóa chất diệt côn trùng trên các bề mặt vách nhà, nơi muỗi Anopheles thường resting. Kết quả từ các phép thử sinh học trên tường vách cho thấy hiệu lực của hóa chất được phun đạt khoảng 80-90% trong những tuần đầu. Tuy nhiên, hiệu lực này giảm dần theo thời gian, đặc biệt là khi bề mặt bị làm sạch hoặc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Việc lặp lại phun định kỳ hàng năm là cần thiết để duy trì hiệu quả phòng chống.

3.1. Kết quả thử sinh học tại các bản làng

Các phép thử hiệu lực phun hóa chất được thực hiện tại nhiều bản làng thuộc xã Pa Ủ. Kết quả cho thấy An. maculatus và An. minimus đều bị ảnh hưởng bởi hóa chất phun tồn lưu. Tuy nhiên, hiệu lực khác nhau giữa các loài và giữa các lần phun, phụ thuộc vào điều kiện về độ ẩm, nhiệt độ môi trường.

3.2. Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực phun tồn lưu

Hiệu lực của phun hóa chất chống muỗi bị tác động bởi nhiều yếu tố. Chất liệu vách nhà (gỗ, đất, bê tông) ảnh hưởng đến khả năng giữ thuốc. Tần suất làm sạch nhà cũng làm giảm hiệu lực. Ngoài ra, sự kháng thuốc của muỗi là yếu tố quan trọng quyết định thành công của biện pháp này.

IV. Khuyến nghị và biện pháp phòng chống sốt rét hiệu quả

Dựa trên kết quả nghiên cứu về muỗi Anopheles tại Lai Châu, cần xây dựng chiến lược phòng chống sốt rét toàn diện, kết hợp nhiều biện pháp. Bên cạnh phun hóa chất tồn lưu, các biện pháp khác như sử dụng mùng ngủ có xử lý thuốc, cải thiện môi trường nhà ở để giảm nơi sinh sản muỗi cũng rất quan trọng. Giáo dục cộng đồng về cách nhận diện các triệu chứng sốt rét sớm để có thể điều trị kịp thời là cần thiết. Monitoring định kỳ độ nhạy cảm hóa chất của muỗi giúp phát hiện sớm tình hình kháng thuốc để điều chỉnh thuốc phun cho phù hợp. Các địa phương cần duy trì các hoạt động phòng chống liên tục, không chỉ vào mùa dịch cao điểm.

4.1. Chiến lược phòng chống sốt rét tổng hợp

Phòng chống bệnh sốt rét hiệu quả đòi hỏi phối hợp phun hóa chất tồn lưu, sử dụng mùng ngủ xử lý thuốc, dọn dẹp môi trường, và phát hiện-điều trị sớm. Các chương trình cộng đồng cần tập trung vào giáo dục, nâng cao nhận thức về nguy hiểm của bệnh sốt rét và cách phòng chống hiệu quả.

4.2. Giám sát diễn biến kháng thuốc của muỗi

Việc giám sát định kỳ độ nhạy cảm của muỗi Anopheles với các hóa chất diệt côn trùng là cần thiết. Điều này giúp phát hiện sớm tình hình kháng thuốc, từ đó điều chỉnh lựa chọn thuốc phun, tránh lãng phí và nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh sốt rét lâu dài.

18/12/2025
Nghiên cứu thành phần loài muỗi anopheles đánh giá độ nhạy cảm với hoá chất của véc tơ sốt rét và hiệu lực của biện pháp phun tồn lưu chống véc tơ sốt rét tại xã pa ủ huyện mường tè tỉnh lai châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét là bệnh do ký sinh trùng Plasmodium gây ra đƣợc lan truyền bởi một số loài muỗi Anopheles. Năm 2019, ƣớc tính có khoảng 229 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét trên toàn thế giới, số ca tử vong do sốt rét ƣớc tính là 409 000 ngƣời. Trẻ em dƣới 5 tuổi là nhóm dễ bị ảnh hƣởng nhất bởi bệnh sốt rét, chiếm 67% (274 000) tổng số ca tử vong do sốt rét trên toàn thế giới. Châu Phi là khu vực có tỷ lệ sốt rét cao nhất thế giới với 94% số ca sốt rét và tử vong.

Trong một vài năm trở lại đây, sau nhiều nỗ lực của mạng lƣới phòng chống sốt rét trên thế giới đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc sốt rét trên nhiều vùng [48]. Tại Việt Nam, công tác phòng chống sốt rét những năm qua đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể bằng việc kết hợp phát hiện sớm và điều trị kịp thời cùng với biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét. Theo báo cáo về kết quả phòng chống bệnh sốt rét tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 cho thấy số bệnh nhân sốt rét giảm dần qua các năm, từ 91.635 bệnh nhân năm 2006 xuống còn 54.296 bệnh nhân năm 2010, số trƣờng hợp tử vong do sốt rét cũng giảm từ 41 ca năm 2006 xuống 21 ca năm 2010. Năm 2020, số bệnh nhân sốt rét và ngƣời có ký sinh trùng sốt rét đều giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2019: số bệnh nhân sốt rét giảm 70,6% (1.887 trƣờng hợp), số ký sinh trùng sốt rét giảm 65,8% (1.665 trƣờng hợp).

Bệnh sốt rét hiện nay tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phƣớc, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lăk, Đắk Nông, Phú Yên, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Bình Thuận [31]. Nhìn chung tình hình sốt rét trên toàn quốc có xu hƣớng giảm theo từng năm, tuy vậy tình hình sốt rét tại một số địa phƣơng vẫn diễn biến phức tạp, nguy cơ sốt rét quay trở lại và nguy cơ bùng phát dịch sốt rét vẫn còn cao ở nhiều địa phƣơng. Tình hình mắc sốt rét ở các tình Miền Bắc nói chung cũng nhƣ tại Lai Châu nói riêng thấp hơn so với khu vực Miền Trung – Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo của trung tâm kiếm soát bệnh tật tỉnh Lai Châu, năm 2019 số ký sinh trùng sốt rét toàn tỉnh tăng đột biến là 52 ca và năm 2020 là 46 ca.

Tất cả các ca đều là P. vivax, 100% là lan truyền nội địa, tập trung ở xã Pa Ủ, huyện Mƣờng Tè [25]. Trƣớc diễn biến này, chúng ta cần tăng cƣờng nghiên cứu để đề ra các biện pháp phòng chống phù hợp, ngăn chặn nguy cơ bùng phát dịch. 1 Do vậy, nghiên cứu về thành phần loài, độ nhảy cảm với hóa chất cũng nhƣ đánh giá hiệu lực biện pháp phòng chóng véc tơ sốt rét nhằm đánh giá hiệu quả của công tác phòng chống sốt rét cũng nhƣ đƣa ra các đề xuất khả thi hiệu quả hơn.

Do đó chúng tôi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu: “Nghiên cứu thành phần loài muỗi Anopheles, đánh giá độ nhạy cảm với hoá chất của véc tơ sốt rét và hiệu lực của biện pháp phun tồn lƣu chống véc tơ sốt rét tại xã Pa Ủ, huyện Mƣờng Tè, tỉnh Lai Châu”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Xác định thành phần loài của muỗi Anopheles tại xã Pa Ủ, huyện Mƣờng Tè, tỉnh Lai Châu. Đánh giá độ nhạy cảm với hóa chất của một số loài véc tơ sốt rét tại khu vực nghiên cứu.

Đánh giá hiệu lực biện pháp phun tồn lƣu hóa chất diệt côn trùng với véc tơ sốt rét tại khu vực nghiên cứu. 2 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Lai Châu 1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới Bệnh sốt rét là một căn bệnh độc nhất vô nhị trong biên niên sử của lịch sử. Qua nhiều thiên nhiên kỷ, các nạn nhân của căn bệnh này cũng rất đa dạng, từ những cƣ dân thời kỳ đồ đá, cƣ dân của Trung Quốc và Hy Lạp thời kỳ sơ khai, các tầng lớp vua chúa quý tộc cho đến dân nghèo. Chỉ trong thế kỷ 20, bệnh sốt rét là nguyên nhân chính cƣớp đi sinh mạng của rất nhiều ngƣời, từ 150 triệu đến 300 triệu, chiếm từ 2 đến 5% tổng số các ca tử vong.

Dù rằng các ca bệnh hiện tại chỉ còn ở các khu vực nhƣ các khu dân cƣ nghèo ở Châu Phi cận Sahara, châu Á, lƣu vực sông Amazon và các khu vực nhiệt đới khác, thì tới 40% dân số thế giới vẫn sống ở các khu vực lây truyền bệnh sốt rét này[47]. Từ xa xƣa, các tài liệu cổ ở cũng đã đề cập đến sự tồn tại của bệnh sốt rét. Trong đó, các triệu chứng đƣợc mô tả rất chi tiết và điển hình nhƣ các cơn sốt định kỳ, tam nhật, tứ nhật kèm theo triệu chứng lá lách sung to. Tuy nhiên phải đến những năm cuối thế kỷ 19, khi y học đã có những bƣớc tiến đáng kể trong nghiên cứu, thì con ngƣời mới có những phát hiện về căn bệnh chết ngƣời này.

Lần lƣợt là các phát hiện về ký sinh trùng sốt rét, cách thức gây bệnh tạo các cơn sốt theo chu kỳ, phƣơng pháp nhuộm nhằm xác định hình thái của chúng, và cách thức lây nhiễm truyền bệnh ở ngƣời. Từ các nghiên cứu ban đầu này, 4 chủng ký sinh trùng sốt rét ở ngƣời đã đƣợc phát hiện, tạo cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về bệnh sốt rét nhƣ nuôi cấy, điều chế vác xin, xây dựng bản đồ gen của ký sinh trùng sốt rét.[47] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO), đến năm 2019, toàn thế giới có khoảng 229 triệu ca sốt rét ở 87 quốc gia có sốt rét lƣu hành, giảm từ 238 triệu năm 2000. Trong đó, khoảng 215 triệu ca mắc là ở khu vực Châu Phi, chiếm tới 94% tổng số các ca sốt rét trên toàn thế giới. Tại khu vực Đông Nam Á, số ca mắc sốt rét chiếm khoảng 3% tổng số ca trên toàn thế giới, với khoảng 6,3 triệu ca, giảm từ 23 triệu ca năm 2000.

Số ngƣời chết bởi sốt rét trong năm 2019 ƣớc tính khoảng 409 nghìn, giảm so với năm 2000 là 763 nghìn. Trong đó, trẻ em dƣới năm tuổi chiếm 67% số ca tử vong. Khu vực Châu Phi là nơi 3 có số ca tử vong lớn nhất, khoảng 386 nghìn. Còn tại khu vực Đông Nam Á, số ca tử vong là khoảng 9000, chủ yếu là ở Ấn Độ [48].

Có thể thấy các nghiên cứu về sốt rét trong chữa trị và phòng chống đã góp phần không nhỏ trong việc giảm số lƣợng các ca mắc và tử vong. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh sốt rét đƣợc nhắc tới trong y văn và các ca dao dân ca từ thế kỷ thứ 13 , với tên gọi khác, kèm theo mô tả các triệu chứng cũng nhƣ cách thức chữa trị, chu kỳ bùng phát bệnh và cách phòng tránh. Trong thời kỳ Pháp thuộc (1884-1945), các nghiên cứu sốt rét là về cơ cấu ký sinh trùng sốt rét, sinh lý-sinh thái muỗi Anopheles, các cây thuốc chữa sốt rét ở Việt Nam cũng nhƣ xây dựng các biện pháp phòng chống sốt rét. Sau cách mạng tháng 8, trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, là thời kỳ việc phòng chống sốt rét gặp rất nhiều khó khăn khi điều kiện sống nghèo nàn, ngƣời dân di cƣ tránh chiến tranh bị mắc rất nhiều.

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nƣớc chia cắt thì việc phòng chống sốt rét tại mỗi miền lại khác nhau. Sau kháng chiến chống Mĩ thắng lợi, đất nƣớc tiến vào giai đoạn xây dựng và phát triển thì việc phòng chống sốt rét đƣợc chuyển sang loại trừ, và vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. [21] Trong năm 2019, toàn quốc ghi nhận có 5887 ca mắc sốt rét, số ký sinh trùng sốt rét là 4665. Không có dịch sốt rét xảy ra và cũng không có trƣờng hợp nào tử vong do sốt rét.

Cả nƣớc có 25 tỉnh đạt tiêu chí loại trừ bệnh sốt rét của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) và của dự án Phòng chống và Loại trừ sốt rét. Công tác phòng chống côn trùng và các bệnh do côn trùng truyền cũng đã đƣợc triển khai tại các địa phƣơng có tình hình sốt rét phức tạp, có ký sinh trùng kháng thuốc, có véc tơ sốt rét kháng hóa chất. Dù công tác phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét trong năm 2019 đã đạt đƣợc những kết quả tốt, thì tình hình sốt rét vẫn còn phức tạp, tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Trung-Tây Nguyên với số ca mắc sốt rét vẫn ở mức cao. Các yếu tố nguy cơ để bệnh phát triển vẫn hiện hữu: tập quán đi rừng ngủ rẫy, dân di biến động giữa các vùng trong nƣớc hoặc với các nƣớc láng giềng ngày càng phức tạp khó quản lý, ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc.

[31] 4 Các nghiên cứu về sốt rét ở Việt Nam trong những năm gần đây chủ yếu hƣớng tới việc phòng ngừa và ngăn chặn sổt rét tái phát trở lại, kịp thời chuẩn đoán và chữa trị các ca bệnh sốt rét, nhằm tránh lây lan ra cộng đồng. Các giải pháp đƣợc đƣa ra nhƣ: - Về chính sách và xã hội: Đƣa phòng chống sốt rét vào các mục tiêu trong phát triển địa phƣơng, đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngƣời dân về sự nguy hiểm cũng nhƣ cách phòng tránh. - Về chuyên môn: Chú trọng phát triển và duy trì các điểm soi kính phát hiện ký sinh trùng sốt rét, đặc biệt tại các địa phƣơng còn lƣu hành nhằm phát hiện và chữa trị kịp thời. Cập nhận thông tin về chuẩn đoán và điều trị cũng nhƣ đảm bảo có đủ thuốc còn sử dụng đƣợc tại các điểm.

Cung cấp các phƣơng thức phòng ngừa bệnh nhƣ màn tẩm hóa chất, võng màn, hƣơng xua… cũng nhƣ vận động ngƣời dân sử dụng chúng. Phân vùng dịch tễ, giám sát sự phân bố cũng nhƣ kháng hóa chất của muỗi truyền sốt rét để đƣa ra và cung cấp các biện pháp phòng chống. Đồng thời tạo một hệ thống giám sát đánh giá xuyên suốt từ trên xuống dƣới nhằm đánh giá các biện pháp đƣợc áp dụng. - Về các nghiên cứu khoa học và ứng dụng: nghiên cứu về thuốc phòng chống và phác đồ điều trị sổt rét, các biện pháp sử dụng hóa chất trong phòng chống muỗi truyền bệnh sổt rét.

Đồng thời cũng tăng cƣờng trao đổi, đào tạo chuyên gia giữa các cơ sở về việc nghiên cứu và phòng chống sốt rét trong và ngoài nƣớc [32].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ