mở đầu và giới thiệu những nội dung cơ bản, trong đó: phần đầu của chương nêu lên tính cấp thiết của luận án, mục tiêu chung và câu hỏi nghiên cứu. Nhận thức được tầm ảnh hưởng quan trọng của mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, luận án đặt mục tiêu xem xét những nhân tố tác động lên mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán, sau đó xem xét thêm mối quan hệ giữa mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu đã cụ thể hóa mục tiêu nghiên cứu nêu ở trên. Phần tiếp theo chương giới thiệu phương pháp nghiên cứu định lượng trong kế toán, giới thiệu về bộ dữ liệu thứ cấp thu thập được tại thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2014 đến 2019.
Ngoài ra, chương cũng trình bày cụ thể về đối tượng, phạm vi không gian, thời gian của luận án. Sơ đồ mô tả khung nghiên cứu thể hiện nội dung và các bước nghiên cứu, đồng thời kết cấu luận án được nêu cuối chương thể hiện nội dung chi tiết của luận án. 15 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ THỰC HIỆN THẬN TRỌNG TRONG KẾ TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Những vấn đề cơ bản về nguyên tắc thận trọng 2.
Định nghĩa và yêu cầu nguyên tắc thận trọng Nguyên tắc kế toán được xem như những tuyên bố chung về chuẩn mực, thước đo, chỉ dẫn mà doanh nghiệp phải thuân thủ khi lập các báo cáo tài chính để đạt được tính thống nhất của các báo cáo này. Trong đó, thận trọng trong kế toán là nguyên tắc lâu đời, được chấp nhận rộng rãi và được ứng dụng trong nhiều góc nhìn của doanh nghiệp (Sterling, 1970) Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về nguyên tắc thận trọng, tuy nhiên đó mới dừng lại ở mức độ mô tả thận trọng trong các trường hợp kế toán. Dưới góc nhìn từ Báo cáo kết quả kinh doanh, (Bliss, 1924) nhận định rằng rằng thận trọng là việc doanh nghiệp không dự báo trước phần lợi ích nhưng lại trích lập dự phòng tất cả các khoản lỗ có thể có. Như vậy có thể thấy rằng những hao tổn hay chi phí sẽ được xác định sớm hơn so với việc ghi nhận phần lợi ích thu được.
(Basu, 1997) định nghĩa thận trọng là việc ghi nhận các thông tin tiêu cực nhanh hơn so với ghi nhận thông tin tích cực. Điều này nghĩa là điều kiện và thời điểm ghi nhận những thông tin tích cực (doanh thu) và thông tin tiêu cực (chi phí) là khác nhau. Và sự chênh lệch thời điểm ghi nhận hai loại thông tin này được sử dụng như một cách đo lường thận trọng. Hay như Givoly và Hyan (2000) cũng mô tả thận trọng là sự lựa chọn cách ghi nhận trong kế toán dẫn đến việc tối thiểu hóa thu nhập (kế toán theo cơ sở tiền hay kế toán theo cơ sở dồn tích).
Từ đó họ đưa ra cách đo lường việc thực hiện thận trọng kế toán dựa trên sự chênh lệch cộng dồn giữa kế toán theo cơ sở tiền và kế toán theo cơ sở dồn tích. Bên cạnh đó, dưới góc nhìn từ Bảng cân đối kế toán, (Watts & Zimmerman, 1986) mô tả thực hiện thận trọng là việc báo cáo giá trị thấp nhất trong số các giá trị có thể có của tài sản và giá trị cao nhất đối với khoản nợ. Đây là góc nhìn cho rằng tài sản và nợ phải trả trong doanh nghiệp thường xuyên được đo lường trong những tình huống không thực sự chắc chắn. Chính vì vậy họ hi vọng rằng nếu lỗi sai xảy ra trong quá trình đo lường giá trị tài sản và các khoản nợ thì lỗi sai đó sẽ có xu hướng báo cáo giảm xuống hơn là báo cáo tăng thêm.
Hơn thế nữa, việc doanh nghiệp thận trọng báo cáo 16 giảm giá trị tài sản xuống thì mức độ an toàn của tài sản bảo đảm cho các khoản vay càng cao. Đối với góc nhìn của các tổ chức tín dụng hay ngân hàng, đây sẽ là một dấu hiệu tốt và an toàn. Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã chính thức đưa nguyên tắc thận trọng vào khuôn khổ lập và trình bày Báo cáo tài chính năm 1989 nhằm đảm bảo tính tin cậy của thông tin kế toán. IASB định nghĩa "thận trọng là một mức độ cẩn thận trọng việc đưa ra các ước tính cần thiết trong điều kiện không chắc chắn, như tài sản và thu nhập không được đánh giá quá cao và các khoản nợ, chi phí không được đánh giá quá thấp" (IASB, 1989).
Sau đó vào năm 2010, khi IASB sửa đổi Khung khái niệm đã bỏ thận trọng ra khỏi các yêu cầu cơ bản của kế toán do nguyên tắc này vấp phải nhiều tranh luận trong quá trình áp dụng có thể làm giảm tính hữu ích của thông tin kế toán. Tuy nhiên, trên thực tế thận trọng vẫn không bị loại bỏ khỏi thực hành kế toán, và nguyên tắc này vẫn hiện diện rất nhiều trong các nội dung của các chuẩn mực kế toán quốc tế. Vì vậy, IASB đã quyết định đưa khái niệm thận trọng vào dự thảo sửa đổi Khung khái niệm năm 2015. Sau đó, trong bản chính thức Khuôn mẫu khái niệm cho hoạt động báo cáo tài chính năm 2018, thận trọng được giới thiệu lại như một khía cạnh phụ của của đặc điểm trình bày trung thực và được mô tả là "sự cẩn trọng trong việc nhận định, đánh giá và cân nhắc trong điều kiện không chắc chắn" (IASB, 2018).
Tại Việt Nam, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: Chuẩn mực chung, định nghĩa nguyên tắc thận trọng là "việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong điều kiện không chắc chắn". Từ đó, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi doanh nghiệp: “a/ Không lập quá lớn các khoản dự phòng; b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí”. Nguyên tắc thận trọng có sự đa dạng trong cách nhìn nhận và gặp phải nhiều ý kiến tranh luận. Việc thực hiện thận trọng mang lại lợi ích và sự đáng tin cậy cho thông tin kế toán.
Tuy nhiên có ý kiến cho rằng việc nhà quản trị vận dụng nguyên tắc này cũng có thể gây ảnh hưởng tới nguyên tắc khác. Và đôi khi vì lý do chủ quan, nhà quản trị cố tình lạm dụng việc áp dụng nguyên tắc thận trọng, gây bóp méo thông tin. Để đo lường việc thực hiện và tuân thủ nguyên tắc kế toán của các công ty một cách trực diện là rất khó khăn bởi nó yêu cầu các phán đoán và nhận định cả về thông tin 17 tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy luận án sẽ đi sâu nghiên cứu về mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán dưới một số khía cạnh.
Nói cách khác, luận án sẽ xem xét đặc tính thận trọng khi kế toán qua một số dấu hiệu và hành vi thể hiện của nhà quản lý. Tóm lại, với quy mô của luận án, đo lường mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán là xem xét phản ứng ghi nhận một số khoản mục trong hệ thống kế toán (thông qua các mô hình đo lường) một cách cẩn thận trong những tình huống không chắc chắn để đảm bảo rằng rủi ro tiềm tàng trong các tình huống này đã được cân nhắc đầy đủ. Phân loại việc thực hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán Nguyên tắc thận trọng trong kế toán sẽ thể hiện sự cẩn thận của kế toán trong các tình huống không chắc chắn (Ball & Shivakumar, 2005). Từ đó có thể phân loại việc thể hiện nguyên tắc thận trọng trong kế toán theo 2 trường hợp là thận trọng có điều kiện và thận trọng không có điều kiện.
Thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện Thận trọng có điều kiện là việc kế toán thực hiện nguyên tắc thận trọng trong điều kiện cần xem xét tới ảnh hưởng của thông tin sự kiện kinh tế tới việc ghi nhận và hạch toán kế toán. Khi đó các thông tin kinh tế tiêu cực ảnh hưởng tới lợi nhuận như các khoản chi phí, nợ phải trả,. được ghi nhận nhanh hơn các thông tin kinh tế tích cực như các khoản thu nhập, doanh thu. Nói cách khác nếu doanh nghiệp phản ánh ngay lập tức với các thông tin tích cực hay ghi nhận ngay các khoản doanh thu và thu nhập khi chưa có bằng chứng chắc chắn thì mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện sẽ giảm xuống.
Ngược lại mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng sẽ cao khi doanh nghiệp phản ứng nhanh với các thông tin tiêu cực hay ghi nhận các khoản chi phí, hao tổn khi có thông tin về khả năng xảy ra. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 cũng thể hiện đặc tính này của nguyên tắc thận trọng. Và chính những điều kiện trong thời gian và đặc điểm ghi nhận tạo thành nguyên tắc thận trọng có điều kiện. Một số ví dụ điển hình của thực hiện nguyên tắc thận trọng có điều kiện có thể kể đến đó là: Dự phòng nợ phải trả: Nguyên tắc thận trọng yêu cầu kế toán ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí và bằng chứng chắc chắn về việc thu được doanh thu.
Nói cách khác tốc độ phản ứng của hệ thống kế toán với thông tin tích cực và tiêu cực là dấu hiện quan trọng thể hiện mức độ thực hiện nguyên tắc thận trọng 18 trong kế toán. Như vậy, khi một sự kiện đã xảy ra và có khả năng làm giảm sút kinh tế trong tương lai cần xác nhận là một khoản nợ. Đồng thời khi doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ phải trả hiện tại và đưa ra một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó, kế toán cần thận trọng ghi nhận một khoản dự phòng và chi phí dự tính để thanh toán được nghĩa vụ nợ đó. Ví dụ khi công ty bán hàng kèm theo dịch vụ bảo hành sản phẩm với thời gian trong một năm sau khi mua.
Khi áp dụng nguyên tắc thận trọng, kế toán sẽ cần đánh giá từng xác suất xảy ra nghĩa vụ bảo hành và ước tính chi phí bảo hành trong trường hợp trên.