Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Thông tin chung về loài Xoay Chi Xoay (Dialium) được đặt tên năm 1767 để phù hợp với đặc điểm của loài Dialium indum Linn (loài có nguồn gốc từ Ấn Độ, do Linnaeus phát hiện và mô tả năm 1767) (Bibang Bengono và cs, 2021 [65]). Năm 1825, De Candolle đã xếp chi Xoay thuộc phân họ Leguminosae (Đậu) trong tông Cassiae. Năm 1840, Bentham phân chia lại phân họ Vang (Caesalpinioideae) thành 8 chi và đặt chi Xoay vào phân họ Cynometrea. Năm 1865, chính Bentham đã sửa đổi quan điểm của mình và đặt chi Xoay vào tông Cassiae, sự thay đổi này phù hợp với phân loại của De Candolle năm 1825 (Justo P.
Tuy nhiên, Hutchinson đã nhận thấy rằng việc phân loại của Bentham (1865) không còn phù hợp vì các chi mới được thêm vào có những đặc điểm không giống với đặc điểm của các họ trong phân loại của Bentham (dẫn theo Justo P. Năm 1964, Hutchinson đã đưa ra một phân loại mới bằng cách chia phân họ Vang thành các nhóm không có trạng thái danh pháp. Với phân loại này, các chi dưới mỗi nhóm được phân tách bằng các khóa. Trong các khóa, chi Xoay lần lượt xuất hiện trong các nhóm từ 1 đến nhóm 4.
Tuy nhiên, trong tông Cassieae, không có nhóm không chính thức nào được phân vào; thay vào đó, các họ được chia thành các cấp bậc phụ khiến chi Xoay trở thành 1 trong 5 chi mới và được phân trở lại tông Cassieae (Justo P. Rojo đề xuất một phân loại mới bằng cách kết hợp các đặc điểm hình thái học, phân loại học, tế bào học và hóa thực vật. Kết quả phân loại đã phân biệt ra 27 loài, sắp xếp lại thành 3 phân chi (Arouna, Dialium và Dansera) trong họ phân Vang, mỗi phân chi có một đặc điểm riêng biệt nổi trội. Trong đó, phân chi Arouna có ngăn chứa hoa hình đĩa lớn hơn nhiều so với bầu nhụy; phân chi Dialium có năm lá đài; phân chi Dansera có ba lá đài (Justo P.
Năm 2017, nhóm nghiên cứu về phát sinh loài thực vật (Legume Phylogeny Working Group – LPWG) đã sử dụng trình tự bộ gen lục lạp matK để phân loại và xắp xếp lại các loài trong phân họ Vang, đồng thời đã xếp chi Xoay trong phân họ mới có tên là Dialioidae. Trong đó, phân họ Dialioidae được công nhận là một 6 nhánh khác với phân họ Vang (Caesalpinioideae). Với phân loại này, phân họ Dialioidae bao gồm 85 loài thuộc 15 chi, trong đó chi Xoay gần với các chi Apuleia, Uittienia và Zenia (LPWG, 2017) [67]. Hầu hết các loài trong chi Xoay được phát hiện và thêm vào ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 (Justo P.
Loài được phát hiện mới nhất là Dialium heterophyllum, được công bố trong năm 2020 (Falcão MJA. và Mansano VF. Cây Xoay được nhà thực vật học người Pháp có tên là Jean Baptiste Louis Pierre (1833 – 1905) mô tả và đặt tên khoa học là Dialium cochinchinense Pierre. Mẫu tiêu bản thực vật đầu tiên của loài này được thu thập tháng 7 năm 1877 tại vùng Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam (Kai Larsen và cs, 1980 [71]; Pierre.
Hiện nay mẫu tiêu bản đã được số hóa và đang được lưu trữ tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên với số hiệu mục lục BM000958829. Theo hệ thống phân loại của APG IV (2016) [54] và Takhtajan A. Theo Steyaert René L (1951) [89], trên thế giới cây Xoay còn có một số tên khoa học đồng nghĩa khác là D. bursa der Wit, D.
marginatum de Wit và D. turbinatum de Wit. Tuy nhiên, Xoay (D. cochinchinense Pierre) và D.
indum Linn là 2 loài khác nhau, có quan hệ gần gũi với nhau, có đặc điểm hình thái tương đối giống nhau. Các bộ phận của cây Xoay (D. cochinchinense Pierre) như lá, hoa, quả đều nhỏ hơn so với loài D. indum Linn (Justo P.
7 Xoay có tên tiếng Anh là Velvet Tamarind, ngoài ra tại các nước khác nhau còn có các tên gọi khác như: Keranji kertas kecil (vùng Peninsular, Malaysia), Mackhang, Xai met (vùng Sarawak, Malaysia), Krâlanh lomië (Campuchia), Kheng (Lào), Khleng (Thái Lan), I-dang (vùng Bắc Thái Lan), Kayi (vùng Peninsular, Thái Lan) và Xoay (Việt Nam) (Soerianegara I và Lemmens R. Ở Việt Nam, tùy vào mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng, cây Xoay còn có tên gọi khác nhau như: Xay, Xây, Xây lông, Lá mét, Nai Sai mét, Kiền kiền (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2000 [10]; Phạm Hoàng Hộ, 1999 [22]; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999, 2010 [33] [34]). Trong danh sách tên cây rừng Việt Nam được Bộ Nông nghiệp và PTNT phát hành năm 2001, đã công bố tên gọi và tên khoa học của đối tượng nghiên cứu là cây Xoay, có tên khoa học là Dialium cochinchinense Pierre (Bộ Nông Nghiệp và PTNT, 2001) [5]. Tuy nhiên, các tác giả Đỗ Huy Bích và cs (2006) [2]; Bùi Thanh Hằng và Ngô Văn Cầm (2009) [20]; Phạm Thế Dũng và cs (2012) [16]; Nguyễn Hoàng Nghĩa (2010) [34]; Trần Hồng Sơn và cs (2016) [41]; Hồng Bích Ngọc và cs (2018) [35]; Ngô Văn Cầm và cs (2022) [8] đã sử dụng tên khoa học là Dialium cochinchinensis Pierre trong các công trình nghiên cứu của mình.
Như vậy, về tên khoa học của cây Xoay chưa có sự thống nhất trong các tài liệu nghiên cứu và các văn bản có liên quan. Trong nghiên cứu này, luận án thống nhất sử dụng tên khoa học của loài Xoay là Dialium cochinchinensis Pierre. Tổng quan các công trình nghiên cứu về cây Xoay nhận thấy, Xoay là loài cây đặc hữu của Đông Nam Á, các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 2 nhóm chủ đề sau: (1) Nghiên cứu về phân loại thực vật, mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái: Điển hình là các công trình của Pierre. Rojo (1982) [84]; Soerianegara I và Lemmens R.
(2) Nghiên cứu về giá trị sử dụng: Điển hình là các tác giả Chhouk Chhay Horng (2017) [55]; De Guzman CC. và Sienonsma JS. (1999) [58]; Kimsun Chheng và cs (2015) [72]; Soerianegara I và Lemmens R. Các công trình nghiên cứu hệ thống về đặc điểm sinh học, kỹ thuật nhân giống và trồng cây Xoay còn rất hạn chế, cụ thể như sau: 1.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài 1.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học - Phân bố và sinh thái: Phần lớn các loài trong chi Xoay xuất hiện trong các khu rừng mưa, ở các vùng đất khô hoặc ẩm ướt, chúng phân bố từ vùng đất thấp đến độ cao khoảng 600 m hoặc đôi khi đạt đến 1.000 m, trong các khu rừng mưa thường xanh đất thấp nhiệt đới.
Một số loài phân bố ở các vùng đất thấp khác như ở than bùn (loài D. patens và loài D. indum), đầm lầy nước ngọt (loài D. platysepalum), rừng Thạch nam (loài D.
kunstleri), vùng ven biển (loài D. Africa) và loài D. Có rất ít loài mọc ở những nơi có môi trường sống khắc nghiệt hơn như trong rừng gió mùa và savan (loài D. englerianum và loài D.
Nhưng ngay cả ở những khu vực khô hạn theo mùa, các loài trong chi này cũng ưa ẩm (Justo P. Các nghiên cứu về lập địa và các loại đất nơi các loài trong chi Xoay phân bố ít được đề cập trong các ghi chép thực địa. Một số loài ghi nhận mọc trên các loại đất cát pha, đất sét và đất phù sa, phát triển trên đá sa thạch (Marcus M. Cây Xoay bắt gặp chủ yếu trong các rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm hoặc rừng nửa rụng lá, ở độ cao từ 300m đến 1.600m so với mặt nước biển, trong các trạng thái nguyên sinh hoặc rừng mới bị tác động nhẹ.
Phân bố ở nơi có nhiệt độ bình quân năm trên 20 o C, lượng mưa trên dưới 2. Xoay phân bố ở vùng khí hậu nhiệt đới, đặc biệt thích nghi với vùng nhiệt đới gió mùa, trong rừng bán thường xanh hỗn giao cây họ Dầu. Xoay thường phân bố ở các sườn đồi, trên đất cát pha sét, chịu được đất nghèo nhưng thoát nước tốt. Cây tái sinh chịu bóng, luôn có xu hướng phát triển vươn lên tầng cao (Bamroongrugsa N.
Trong tự nhiên, Xoay thường vươn lên tầng ưu thế, tán to, hình thái tán dễ nhận biết nên đã được Elizabeth Moore (1989) [61] lựa chọn là một trong những loài cây chính làm khóa ảnh để nhận diện trạng thái rừng qua không ảnh khi nghiên cứu về quản lý nguồn nước tại Campuchia. Trên thế giới, Xoay phân bố ở các nước Myamar, Maylaysia, các nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Cămpuchia), Thái Lan (Hoang Van Sam và cs, 2004 [66]; Justo P. Ngoài ra, Xoay cũng được ghi nhận trong danh sách những loài cây trồng ở Singapore (Chong Kwek Yan và cs, 2009) [73]. Tại Thái Lan, nghiên cứu của Dhanmoanonda P.
Tại Campuchia, quá trình kiểm kê, theo dõi các loài cây có hoa trong các ô định vị được thiết lập tại 2 tỉnh Kampong Thom and Kampong Chhnang đã tìm thấy Xoay phân bố trong các ô định vị thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh tại tỉnh Kampong Thom (Toyama Hironori và cs, 2013) [92]. Tại Lào, đã ghi nhận cây Xoay phân bố ở các tỉnh Vientiane (Hatxi - afong, Ban Khuay Daeng, Sikhot Tabong Distr., Ban Ang Nhai), Savannakhet (Ban That, Champhon, Ban Phay) (Hoang Van Sam và cs, 2004 [66]). - Đặc điểm hình thái, vật hậu: Phần lớn các loài thuộc chi Xoay đều là cây thân gỗ, hiếm gặp các loài dạng cây bụi, không có loài nào trong chi có dạng cây leo. Đa số loài đều có bạnh vè mỏng và rộng, một số khác thì hẹp với các cạnh tròn hơn, thân có dịch tiết màu đỏ.
Hoa dạng hợp tử (hiếm khi hoạt hóa), các loài trong chi thường có số lượng cánh hoa khác nhau: 63% số loài không có cánh hoa, 22% có một cánh hoa (ở một số loài cổ sinh), 11% số loài có ba cánh hoa, 4% số loài có năm cánh hoa. Số lượng nhị hoa dao động từ hai đến mười nhị. Quả khô và cứng thường bao gồm lớp vỏ ngoài cứng, lớp thịt quả hoặc cùi, lớp này thường không dính liền với hạt (Justo P. Rojo, 1982 [84]; Marcus Jose.
10 Cây Xoay có kích thước trung bình đến lớn, thân hình trụ thẳng, có chiều cao trên 30 m và đường kính trên 80 cm. Cành non có màu đen, các bộ phận non có lông, sau đó rụng.