CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng Công nghiệp 5.0 đã và đang làm thay đổi toàn diện mọi mặt của các nền kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho quốc gia phát triển, tuy nhiên điều này cũng khiến cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế trở nên gay gắt hơn và tài chính ngân hàng không phải ngoại lệ. Ngân hàng ngoại đã và đang xâm nhập vào thị trường nội địa.
Với kinh nghiệm lâu năm, công nghệ hiện đại, nguồn vốn lớn được hậu thuẫn bởi các tập đoàn tài chính vững mạnh và có uy tín trên thế giới, họ tự tin rằng sẽ đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về lĩnh vực tài chính cho người Việt. Có thể nói, các tập đoàn tài chính nước ngoài chính là thách thức đối với ngành Ngân hàng Việt Nam. Bên cạnh đó, việc làm nổi bật được những kết quả trong quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại như thành tựu đạt được trong năm hoạt động cũng như những hạn chế của công cuộc tái cơ cấu ngân hàng thương mại sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các bên quan tâm đến đầu tư, kinh doanh phát triển chẳng hạn như: chính phủ, các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư, công ty xí nghiệp muốn tham khảo, tư vấn về mặt tài chính chuyên môn cũng như có những cái nhìn khách quan và toàn diện hơn trong việc ra quyết định kinh doanh hoạt động, buôn bán trao đổi và đầu tư vào thị trường kinh tế - tài chính. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài này là vận dụng các kiến thức từ môn học Phân tích chuỗi thời gian trong tài chính để phân tích, đánh giá và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, cụ thể là các ngân hàng BIDV, VCB, Techcombank từ 2017-2022.
Nghiên cứu sẽ tập trung vào thu thập và phân tích các dữ liệu tài chính và kinh doanh, cũng như đánh giá hoạt động trên thị trường của 3 ngân hàng để đưa ra các khuyến nghị cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này, cũng như dự báo hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong 3 năm tới. 4 Downloaded by Vu Vu (quangchinhlas199@gmail. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ tập trung phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của 3 ngân hàng thương mại tại Việt Nam là BIDV, Vietcombank và Techcombank. Các biến được sử dụng trong bài là Hệ số thu nợ, Hiệu quả sử dụng vốn, Vòng quay vốn tín dụng, Tỷ lệ nợ quá hạn, Hệ số rủi ro tín dụng.
Về phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung vào các ngân hàng có niêm yết trên các sàn chứng khoán, các báo cáo tài chính được thu thập từ trang thông tin CafeF. Về mặt thời gian, bài nghiên cứu sẽ phân tích từ 2017-2022 1. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài "ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NG N HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM NĂM TỪ 2017 - 2022", nhóm sẽ sử dụng các phương pháp trong phân tích chuỗi thời gian cụ thể là sử dụng cả phương pháp định tính, phương pháp định lượng và kết hợp chạy các mô hình nổi bật như ARIMA, VEC, VAR. Phương pháp định tính sẽ được sử dụng để tiếp cận và phân tích cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm, thiết kế mô hình nghiên cứu, và thảo luận kết quả nghiên cứu, cũng như đưa ra các gợi ý và khuyến nghị liên quan.
Phương pháp định lượng sẽ được sử dụng để xác định kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp bao gồm thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích mô hình hồi quy. Đối với phương pháp định lượng, nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng các chỉ số tài chính và kinh doanh như Hiệu quả hoạt động của NHTM, Hệ số thu nợ, Hiệu quả sử dụng vốn, Vòng quay vốn tín dụng, Tỷ lệ nợ quá hạn, Hệ số rủi ro tín dụng. Các chỉ số này sẽ được xác định dựa trên kết quả chạy mô hình nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trong các năm đã được đề cập. Tính mới của đề tài Hiện tại, đã có tương đối nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn đề hiệu quả hoạt động ngân hàng theo cả hai hướng định tính và định lượng, nhưng việc sử dụng chạy mô hình ARIMA, VECM, VAR là chưa phổ biến.
Như nghiên cứu của Tser-yieth Chen, sử dụng mô hình DEA và sử dụng mô hình hồi quy để đánh giá các nhân tố ảnh 5 Downloaded by Vu Vu (quangchinhlas199@gmail.com) lOMoARcPSD|12114775 hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại của Đài Loan, tuy nhiên những biến số được sử dụng trong mô hình hồi quy, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong các nghiên cứu này, lại chỉ chủ yếu tập trung ở một số chỉ tiêu chính như: loại hình sở hữu, quy mô, và xem xét ảnh hưởng của một số chỉ tiêu khác như ROA, ROE. Dưới tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế, một số ngành nghề gần như bị tê liệt hoàn toàn. Hoạt động NH có sự liên thông với tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế, vì vậy tác động của đại dịch sẽ khó đoán hơn. Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các NH.
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp, được lấy từ báo cáo tài chính (BCTC) của 3 NHTM đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Techcombank, BIDV, Vietcombank) , thời gian từ năm 2017 – 2022. Nhóm đã tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM thông qua kết quả hoạt động kinh doanh và những chỉ tiêu như hiệu quả hoạt động của NHTM, hệ số thu nợ, hiệu quả sử dụng vốn, vòng quay vốn tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn, hệ số rủi ro tín dụng nhằm phân tích và so so sánh hiệu quả kinh doanh của các NHTM giai đoạn diễn ra đại dịch Covid-19. Từ đó có thể bổ sung bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm, kênh thông tin tham khảo về đánh giá hiệu quả hoạt động, giúp các nhà phân tích, quản trị ngân hàng có thể đưa ra chính sách phù hợp, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng mình trên thị trường tài chính 6 Downloaded by Vu Vu (quangchinhlas199@gmail.com) lOMoARcPSD|12114775 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Theo nghiên cứu (Bình và cộng sự, 2021) về Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại giai đoạn 2017 - 2020, chỉ ra hiệu quả sử dụng vốn tương đương tỷ lệ cho vay/tổng tài sản tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động, tỷ lệ nợ xấu (tỷ lệ nợ quá hạn) cũng có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng. Quy mô tài sản (được tính bằng logarit tổng tài sản) có tác động thuận chiều với hiệu quả hoạt động, ngân hàng có quy mô tài sản càng lớn càng có nhiều khả năng mở rộng kinh doanh và chống đỡ được những biến cố thị trường đặc biệt năm 2020 khi bệnh dịch COVID-19 gây ra nhiều tác động tiêu cực đến các ngành kinh tế.
Nghiên cứu (Đạt, 2021) cho thấy hệ số thu nợ càng cao thì càng tốt và tương quan dương với hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Vòng quay vốn tín dụng cũng được đánh giá càng cao càng tốt và có mối tương quan dương với hiệu quả tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Về tỷ lệ nợ xấu (tỷ lệ nợ quá hạn) cũng như nghiên cứu (Bình và cộng sự, 2021) đã đề cập, tỷ lệ này thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng tốt, mức độ rủi ro thấp và ngược lại. Tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng vốn càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy ở Việt Nam có sự trái ngược do chính sách thắt chặt tiền tệ.
Theo Basle Committee on Banking Supervision và Bank for International Settlements (2000), rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng một khách hàng vay nợ nhưng không thực hiện các cam kết đã thỏa thuận từ trước với ngân hàng. Boffey và Robson (1995) khẳng định loại rủi ro này là rủi ro đáng kể nhất ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng, trong khi Saeed và Zahid (2016) định nghĩa giá trị tín dụng là chỉ số quan trọng về sức khỏe tài chính và sự lành mạnh của các ngân hàng. Gwahula Raphael (2013) đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Tanzania trong giai đoạn bảy năm 2005-2011. Với quan điểm coi ngân hàng như một trung gian tài chính dẫn vốn trong nền kinh tế, tác giả lựa chọn các biến đầu vào bao gồm: lao động, khấu hao, chi phí hoạt động, chi phí tài chính; biến đầu ra là dư nợ và giá trị của các khoản đầu tư.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả chung của các ngân hàng ở mức thấp, chỉ đạt 53,2%, con số này khá thấp khi so sánh với trung bình các ngân hàng trên thế giới. 7 Downloaded by Vu Vu (quangchinhlas199@gmail.com) lOMoARcPSD|12114775 Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ở nhóm các ngân hàng nghiên cứu có hiệu quả phân bổ nhỏ hơn hiệu quả kỹ thuật, điều này hàm ý rằng các ngân hàng ở Tanzania đã phân bổ nguồn lực đầu vào chưa hợp lý. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng hồi quy Tobit để xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng Tanzania. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ an toàn vốn có tương quan dương với hiệu quả hoạt động, ngược lại nợ xấu có tác động nghịch với hiệu quả hoạt động.
Nghiên cứu “Credit Risk and Bank Performance in Ghana: An Empirical Investigation" của Agbloyor & Kumi (2018) nhằm mục đích phân tích mối quan hệ giữa hệ số rủi ro tín dụng và hiệu suất của ngân hàng tại Ghana. Các tác giả đã thu thập dữ liệu từ 24 ngân hàng hoạt động tại Ghana trong giai đoạn 2006-2015 và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích dữ liệu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng hệ số rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến hiệu suất của ngân hàng. Cụ thể, các tác giả đã phát hiện ra rằng khi hệ số rủi ro tín dụng tăng lên, hiệu suất của ngân hàng sẽ giảm.