MỞ ĐẦU 1. Đặt vấ đề Như các bạn đều đã biết, rừng là lá phổi xanh của trái đất và rừng rất quan trọng đối với cuộc sống của con người. Rừng đem đến cho chúng ta một ngôi nhà xanh, đem đến cho ta rất nhiều những nguồn lợi từ rừng và hơn thế nữa, rừng cung cấp cho chúng ta một lượng lớn khí oxi - hay còn chính là nguồn sống của mỗi con người. Không một quốc gia nào, một con người nào có thể nói rằng, họ không cần rừng, rừng không là một tài nguyên nào cả.
Bởi, đối với mỗi con người, mỗi quốc gia, hay một dân tộc nào đó thì rừng là vô giá. Nhưng liệu những thế hệ trẻ như chúng ta, lý thuyết từ sách vở chúng ta đã học quá nhiều, nhưng liệu có bao nhiêu bạn thực sự hiểu được về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của con người. Rừng có ý nghĩa đặc biệt lớn, không chỉ cung cấp của cải cho nền kinh tế của đất nước mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, cải thiện môi trường và cân bằng sinh thái. Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng.
Hiện nay nước ta có khoảng 13.4 triệu ha rừng, trong đó có khoảng hơn 11 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2 triệu ha rừng trồng. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới diện tích rừng ngày càng bị tàn phá nặng nề, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Theo thống kê của cục kiểm lâm tính đến tháng 11/2011 cả nước ta đã có 2023.76 ha, trong đó có khoảng 872.28 ha là rừng tự nhiên và 828.98 ha rừng trồng. Nhưng do tình trạng khai thác và sử dụng bừa bãi rừng nên thảm thực vật đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Từ đó gây ra hậu quả làm đất bị xói mòn rửa trôi, gây bồi lắng lòng hồ, hạn chế khả năng chứa nước. Mặt khác, 2 rừng sau khai thác hầu như bị đảo lộn toàn bộ về cấu trúc, quá trình tái sinh diễn thế theo chiều hướng thoái bộ so với ở tình trạng nguyên sinh hoặc trước khi khai thác, nhất là ở các lâm phần không được quản lý tốt. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thoả đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống của hệ sinh thái rừng. Do đó nghiên cứu cấu trúc rừng được xem là cơ; 8 sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền.
Ở nước ta để có cơ sở cho trồng rừng hỗn giao đảm bảo tính khoa học và thực tiễn góp phần tích cực trong trồng rừng phòng hộ. Bản chất mối quan hệ giữa các loài cây với nhau là rất biện chứng bởi có những cây cạnh tranh nhưng cũng có cây mang mối quan hệ tương hỗ. Để có cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ giữa các loài cây một cách rõ ràng hơn, tiến hành nghiên cứu đề tài: ộ (Bischophia javania Blume) ươ (Toona surenii ư. Mục t u cứu - Xác định được cấu trúc rừng nơi sinh sống của hai loài cây Nhội (Bischophia javania Blume và cây Trương Vân (Toona surenii tại vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác với hai loài cây Nhội (Bischophia javania Blume) và cây Trương Vân (Toona surenii tại vườn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn. - Đề xuất được tập đoàn cây trồng rừng hỗn giao với loài cây Nhội (Bischophia javania Blume và cây Trương vân (Toona surenii tại vườn 3 Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các vùng sinh thái tương tương tự nói chung. Ý ĩ ọ ập k ọ Bổ sung những cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng. Đồng thời giúp cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra.
Ý ĩ ễ sả x ấ Trên cơ sở các quy luật quan hệ tự nhiên giữa các loài giúp ta lựa chọn chỉ ra những loài cây có mối quan hệ mật thiết để xây dựng tập đoàn cây trồng rừng phục vụ trồng rừng phòng hộ hỗn giao hiện nay, nâng cao năng suất của rừng. 4 Phầ TỔNG QUAN NGHI N CỨU. Tổ qua vấ đề cứu Rừng tự nhiên nước ta có tổ thành loài cây đa dạng và phong phú. Song mỗi một loài cây lại có một vùng phân bố nhất định, sự phân bố này có liên quan chặt chẽ với điều kiện hoàn cảnh của môi trường xung quanh.
Trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, ngoài các yếu tố về điều kiện của môi trường, sự tồn tại của các loài trong cùng một lâm phần còn phụ thuộc vào mối quan hệ qua lại giữa các loài, nghĩa là ngoài sự cạnh tranh về điều kiện sống, sự cùng tồn tại của các loài còn chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp bởi các chất tiết của các loài sống cạnh nó thông qua lá, hoa, rễ… Trong một lâm phần khi các loài có đủ không gian dinh dưỡng nhưng vì ảnh hưởng các loài cây xung quanh nên có thể diễn ra theo hai chiều hướng: hoặc là cùng tồn tại hoặc là bài xích lẫn nhau. Chúng cùng tồn tại các loài không có ảnh hưởng xấu đến nhau hoặc kích thích sự sinh trưởng phát triển của các loài xung quanh, ngược lại chúng sẽ loại trừ nhau khi loài này có ảnh hưởng xấu, kìm hãm sự phát triển của các loài bên cạnh. Rừng trồng ở Việt Nam chủ yếu là rừng thuần loài đều tuổi, sinh trưởng nhanh.Song tuy vậy cũng có những ưu nhược điểm so với rừng hỗn loài.Vì vậy, rừng trồng khi xảy ra gió bão, lốc xoáy hay dịch bệnh thường xảy ra thiệt hại lớn đến sản lượng và chất lượng rừng. Đặc biệt là hiện tượng đổ gẫy [5].
Rừng trồng ở nước ta là một hệ sinh thái kém bền vững cả về mặt sinh thái và kinh tế. Cấu trúc các hệ sinh thái đang bị đe dọa, kèm theo đó là những ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Việc nghiên cứu tìm ra phương thức trồng rừng hỗn giao các loài cây với nhau sẽ là giải pháp hữu hiệu cho phát triển bền vững [5]. 5 Vì thế nghiên cứu sâu về mối quan hệ qua lại giữa các loài trong rừng tự nhiên là rất cần thiết cho việc điều chỉnh tổ thành loài cây trong các lâm phần rừng tự nhiên khi cần tác động các giải pháp lâm sinh và quan trọng hơn là làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp các loài cây trong trồng rừng hỗn loài.
Rừng hỗn loài cho chất lượng sản phẩm tốt, loại sản phẩm nhiều hơn rừng thuần loại: Đặc biệt đối với loài cây thân cong queo, tỉa cành tự nhiên kém, chiều cao dưới cành thấp, nên nâng cao được chất lượng gỗ và tỷ lệ sử dụng của gỗ. Rừng hỗn loài đòi hỏi điều kiện lập địa tốt, kỹ thuật trồng và chăm sóc phức tạp. Rừng hỗn loài trên một diện tích phải trồng nhiều loài cây khác nhau, kỹ thuật trồng và chăm sóc của mỗi loài cây có yêu cầu khác nhau, quan hệ giữa các loài trong quá trình kinh doanh đòi hỏi phải có những biện pháp lâm sinh tác động chính xác, kịp thời mới phát huy được mặt lợi và hạn chế được mặt tiêu cực [5]. Việc nghiên cứu trồng rừng hỗn giao ở nước ta là rất quan trọng.nhằm phục hồi và phát triển rừng.do rừng tư nhiên phần lớn là rừng hỗn giao nhiều loài cây nhưng do giới hạn về tư tưởng và nhận thức nhiều nơi vẫn trồng rừng thuần loài là chính và trồng trên quy mô lớn rừng thuần loài.Do kết cấu và chức năng hệ sinh thái khá đơn giản nhiều khu vực xảy ra sâu bệnh hại tính đa dạng giảm đất rừng bị suy thoái.lâm phần không duy trì được sức sản suất, giảm chức năng của nó ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp và môi trường sinh thái.Cho nên bất cứ nước nào nhiều nhà lâm học càng chú ý đến trồng và chăm sóc rừng hỗn giao để đi tìm tính ổn định của hệ sinh thái rừng mang ý nghĩa bền vững và thu được hiệu ích tổng hợp sinh thái và kinh tế [5].
Các mối quan hệ hỗ trợ * Quan hệ hội sinh: Mối quan hệ này được thể hiện dưới nhiều cách, 6 trong đó loài sống hội sinh có lợi, còn loài được hội sinh không có lợi và cũng không bị hại. Ví dụ, nhiều loài phong lan lấy thân gỗ khác để bám. Ở biển, cá ép luôn tìm đến các loài động vật lớn cá mập, vích… , thậm chí cả tàu thuyền để ép chặt vào, nhờ đó, cá dễ dàng di chuyển xa, dễ kiếm ăn và hô hấp. Các loài động vật nhỏ sống hội sinh với giun biển [9].
* Quan hệ hợp tác: Đây là kiểu quan hệ giữa các loài, trong đó, chúng sống dựa vào nhau, nhưng không bắt buộc. Ví dụ, ở biển, các loài tôm, cá nhỏ thường bò trên thân cá lạc, cá dưa để ăn các ngoại kí sinh sống ở đây làm thức ăn; sáo thường đậu trên lưng trâu, bò bắt “chấy, rận” để ăn. * Quan hệ cộng sinh: Đây là kiểu quan hệ mà 2 loài chung sống thường xuyên với nhau mang lợi cho nhau. Ví dụ, cuộc sống cộng sinh của kiến và cây: kiến sống dựa vào cây để lấy thức ăn và tìm nơi ở, nhờ có kiến mà cây được bảo vệ.
Trong nhiều trường hợp, sống cộng sinh là cách sống bắt buộc, khi rời khỏi nhau cả 2 đều chết. Ví dụ, động vật nguyên sinh sống trong ruột mối có khả năng phân giải cellulose thành đường để nuôi sống cả 2; vi sinh vật sống trong dạ dày động vật nhai lại có vai trò tương tự. Khuẩn lam sống dưới lớp biểu mô của san hô, hến biển, giun biển… khi quang hợp, tạo ra nguồn thức ăn bổ sung cho các động vật này. Nấm và vi khuẩn lam cộng sinh với nhau chặt chẽ đến mức tạo nên 1 dạng sống đặc biệt, đó là địa y [9].
Các mối quan hệ đối kháng * Quan hệ ức chế - cảm nhiễm: Ức chế - cảm nhiễm là mối quan hệ trong đó 2 loài này sống bình thường nhưng lại gây hại cho nhiều loài khác.