ĐẶT VẤN ĐỀ Việt nam là một nƣớc nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện cho các loài động thực vật sinh trƣởng và phát triển thuận lợi, tạo nên sự đa dạng phong phú của các loài động thực vật và nhiều hệ sinh thái khác nhau. Nƣớc ta hiện có tới 10386 loài thuộc 2257 chi và 305 họ, chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới. Thảm thực vật rừng giữ vai trò nhƣ là lá phổi xanh của Trái Đất, chúng điều hòa khí hậu, điều hòa chu trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên, chúng giữ đất khỏi xói mòn rửa trôi, chống sạt lở đất, chắn cát… bảo vệ con ngƣời khỏi các thiên tai đe dọa. bên cạnh đó chúng còn cung cấp cho con ngƣời nguyên liệu để phát triển công nghiệp (dệt may, gỗ, giấy…), cung cấp thức ăn cho động vật và con ngƣời, là nguồn dƣợc liệu quý của nhân loại.
Vƣờn quốc gia (VQG) Xuân Sơn là khu bảo tồn với hệ sinh thái và số lƣợng hệ động thực vật phong phú và đa dạng với nhiều loài có giá trị cao, với nhiều nỗ lực trong công tác bảo tồn hiện nay vƣờn còn có nhiều loài gỗ và lâm sản ngoài gỗ quý hiếm cần đƣợc bảo tồn nhƣ: Chò nâu, Chò chỉ, Nghiến, Hoàng tinh trắng, Lan kim tuyến… và còn rất nhiều loài chƣa đƣợc thực sự chú ý đến nhƣ các loài thực vật trong họ Tai voi. Các loài thực vật trong họ Tai voi (Gesneriaceae Dumort, 1829) là những loài thực vật thân thảo, cây bụi,… một số loài trong họ này đƣợc sử dụng để làm thuốc, nhiều loài trong họ này có hoa và dáng mọc rất đẹp nên chúng đƣợc trồng để làm cảnh. Do công dụng của chúng chƣa đƣợc biết đến rộng rãi nên các loài này chƣa đƣợc bảo vệ, các loài này đang bị tác động nhiều do việc thu hẹp vùng sống từ các hoạt động của con ngƣời. Hiện nay chƣa có những đề tài, những nghiên cứu cụ thể để bảo tồn và phát triển các loài này tại khu vực.
Do vậy, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài thực vật trong họ Tai voi (Gesneriaceae Dumort, 1829). tại khu vực xã Xuân Sơn, Vườn Quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” là thực sự cần thiết nhằm góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu cho Vƣờn quốc gia Xuân Sơn phục vụ công tác quản lý tài nguyên cũng nhƣ quản lý các loài thực vật. 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về họ trên thế giới.
Họ Tai voi hay còn gọi họ phong lữ, họ Thƣợng tiễn , họ Rau Tai voi (danh pháp khoa học: Gesneriaceae) là một họ thực vật có hoa chứa khoảng 150 chi và khoảng 3.200 loài cây tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của cựu thế giới và Tân thế giới, với một lƣợng nhỏ loài sinh sống tại khu vực ôn đới. Nhiều loài có hoa nhiều màu sắc rực rỡ và đƣợc trồng làm cây cảnh. Phần lớn các loài trong họ là cây thân thảo hay cây bụi nhỏ sống lâu năm nhƣng có một số loài là cây bụi thân gỗ hay cây gỗ nhỏ. Kiểu sắp xếp lá trên thân cây thƣờng là mọc đối hay chéo chữ thập, nhƣng ở một vài nhóm thì kiểu so le hay xoắn ốc cũng tồn tại.
Giống nhƣ các thành viên khác của bộ Hoa môi (Lamiales) hoa của chúng thƣờng có tràng hoa đối xứng hai bên với các cánh hoa hợp thành ống và không có đặc trƣng nào khác trong cấu trúc này để chia tách các thành viên của họ này ra khỏi các thành viên khác của bộ Lamiales. Họ Gesneriaceae khác với các họ có liên quan khác trong bộ Lamiales ở chỗ có cấu trúc cụm hoa bất thƣờng, gọi là "xim hoa thành cặp đôi", nhƣng một vài nhóm trong họ không có đặc trƣng này, và một số họ khác của bộ Lamiales (nhƣ Calceolariaceae và một vài nhóm trong họ Scrophulariaceae) cũng chia sẻ đặc trƣng này. Bầu nhụy có thể thƣợng, bán hạ hay hạ hoàn toàn, quả có thể là quả nang khô hay dày cùi thịt hoặc quả mọng. Hạt nhỏ và số lƣợng hạt nhiều.
Gesneriaceae theo truyền thống đƣợc tách ra khỏi họ Scrophulariaceae do nó có bầu nhụy một ngăn chứ không phải bầu nhụy hai ngăn, với kiểu đính noãn thành vách chứ không đính trụ. Trên cơ sở các khác biệt hình thái và địa lý sinh vật, họ này đƣợc chia ra thành 2-3 phân họ chính: phân họ Cyrtandroideae (Cyrtandraceae, Didymocarpoideae, Didymocarpaceae, Ramondaceae) chủ yếu tại khu vực Cựu thế giới, phân họ Gesnerioideae chủ yếu tại Tân thế giới và có thể là Epithematoideae chủ yếu tại Nam Á và Đông Nam Á. Chi lớn nhất và phân bố rộng khắp nhất là Cyrtandra, với 2 khoảng 550-600 loài tại Đông Nam Á (Malaysia, Indonesia, Philippines và các đảo miền tây Thái Bình Dƣơng xa tới tận khu vực quần đảo Hawaii Skog, Laurence E. Một nghiên cứu của họ Gesnerieae, với một sửa đổi của Gesneria (Gesneriaceae: Gesnerioideae).
Đóng góp Smithsonian thực vật học, số 29, 182 trang, 86 con số, 9 bàn, 1976 -Một nghiên cứu đƣợc thực hiện trong những họ Gesnerieae của họ Gesneriaceae từ Tây Ấn, cung cấp thông tin về lịch sử, giải phẫu và hình thái, thụ phấn và phát tán, và lai tạo trong họ. Các bộ lạc gồm 67 loài trong 3 chi: Rhytidophyllum, Gesneria, và Pheidonocarpa. Các chi cuối cùng đƣợc mô tả nhƣ mới, với sự kết hợp các loài mới, Pheidonocarpa corymbosa (Swartz) L. Skog, và 2 phân loài.
Một sion revi- của Gesneria Linnaeus đƣợc trình bày dựa trên các nghiên cứu thực địa và tiêu bản. Gesneria đƣợc chia thành 9 phần, 46 loài (một loài mới, Gesneria onychocalyxL. Skog, đƣợc mô tả), 12 loài và 11 giống. các phân loại phần bao gồm các phím, synonymies, mô tả, typifications, phân bố, và sinh thái, cũng nhƣ bản đồ phân bố và minh họa của các đơn vị phân loại.
Theo The plant list thì trang này thống kê họ Gesneriacea có 154 chi với 7425 loài đƣợc nhắc đến và chỉ 2780 loài trong họ này đƣợc chấp nhận tên. Trong cuốn sách “The Families and Genera of Vascular Plant” của J. Kadereit (Ed) có đề cập đến các loài thực vật trong họ Tai voi. Cuốn sách “Folora of China” của Wang Wentsai, Pan Kaiyu, Li Zhenyu Anna L.
Skog có đề cập đến 442 loài thực vật, thuộc 56 chi, trong họ Tai voi. Còn cuốn sách “Flora of Taiwan” của LI, Zhen–Yu and KAO, Mmuch- Tsuen đã thống kê đƣợc 13 loài thực vật thuộc 12 chi của họ Tai voi. Các công trình nghiên cứu về họ Tai voi trong nƣớc. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, theo các nhà thực vật, khu hệ thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam ƣớc tính khoảng 12000 loài.
Theo GS Phạm Hoàng Hộ (năm 2003), Việt Nam ghi 3 nhận đƣợc hơn 11000 loài. Trong đó họ Tai voi ( Gesneriaceae ) có khoảng 70 loài ở VN, gồm toàn những loài cỏ nhỏ và tiểu mộc phụ sinh sống trên cao nguyên, vách núi và một số loài nhập nội bán ở chợ hoa. ( theo GS Phạm Hoàng Hộ - sách cây cỏ Việt Nam quyển 3 ) Theo nghiên cứuTS. Võ Văn Chi (sách Từ điển thông dụng Việt Nam - 2004), trong họ Tai voi tại Việt Nam có khoảng 20 chi và trên 65 loài.
Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với các nhà thực vật thuộc Viện Thực vật Quảng Tây, Trung Quốc đã nghiên cứu tính đa dạng một số taxon của khu hệ thực vật Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Các nhà thực vật đã tiến hành 3 đợt khảo sát, nghiên cứu, thu thập mẫu vật tại các Vƣờn Quốc gia (VQG), Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) phía Bắc Việt Nam. Bƣớc đầu, đã phát hiện bổ sung 4 loài thực vật thuộc họ Rau Tai voi Gesneriaceae cho hệ thực vật Việt Nam là Hemiboea rubribracteata Z. Liu, Primulina laxiflora (W.
Wang, Primulina wentsaii (D. Wang, Lysionotus aeschynanthoides W. Kết quả đã đƣợc công bố trên tạp chí GUIHAIA số 3, 2013. Ngày 5 tháng 9 năm 2016 Đỗ Văn Trƣờng và các cộng sự của mình đã nghiên cứu và đƣa ra Các hồ sơ và chìa khóa mới cho chi Hemiboea và Loxostigma (Gesneriaceae) Cho hệ thực vật Việt Nam.
Ở đây họ mô tả ba loài của Gesneriaceae (Hemiboea gracilis, H. ovalifolia và Loxostigma glabrifolium). Những loài này cho đến nay chỉ đƣợc biết đến là loài đặc hữu của Trung Quốc trong các nghiên cứu trƣớc đây. Các phát hiện bổ sung cho thấy sự tồn tại của các liên kết thực vật mạnh mẽ giữa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc.
Họ bổ sung cung cấp chìa khóa nhận dạng cho các chi Hemiboea và Loxostigma ở Việt Nam. Kết quả này đƣợc trực tuyến xuất bản ngày 14 tháng 11 năm 2016. Ngày 28 tháng 12 năm 2016 tạp chí Sinh học đã xuất bản nghiên cứu của Nguyễn Quốc Đạt, Nguyễn Hiếu Cƣờng, Vũ Ngọc Long, Lƣu Hồng Trƣờng, 4 trong nghiên cứu này họ đƣa ra Loài Billolivia cadamensis (Gesneriaceae) đƣợc mô tả là một loài mới từ tỉnh Quảng Ngãi, miền Trung. Phân loại mới gần với B.
tichii nhƣng khác với loài này là thân cây ngắn hơn, các gân sẫm màu, phân chia thành 5 thanh thùy, hình tràng hoa thuôn hoặc trán, lông dày đặc trên đầu 3/4 nhuỵ, thùy và tràng trắng. Tập thể tác giả công bố loài mới là Vũ Ngọc Long, Nguyễn Thế Văn, Lƣu Hồng Trƣờng, cán bộ của Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam và Phạm Hữu Nhân, cán bộ của VQG Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng. loài đƣợc các tác giả công bố là loài Giang ly tịch. Đƣợc tìm thấy trên các khu vực có đất dọc theo các dòng suối trong rừng kín thƣờng xanh trên núi ở độ cao 1800-1900 m so với mặt nƣớc biển, sƣờn phía tây của núi Gia Rích, thuộc xã Đạ Chais, huyện Lạc Dƣơng, tỉnh Lâm Đồng, trong phạm vi của VQG Bidoup Núi Bà, cao nguyên Đà Lạt, miền Nam Việt Nam.
Mùa hoa vào tháng 10 và tháng 11. Loài mới phát hiện đƣợc đặt tên theo nhà thực vật học, chuyên gia về lan của Việt Nam, ông Nguyễn Thiện Tịch, giảng viên tại trƣờng Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, là ngƣời đầu tiên tìm ra loài này và đề cập nó là một loài mới với tập thể tác giả. Loài đƣợc đề xuất vào IUCN nhƣng mới chỉ ở cấp độ DD (chƣa có đủ dẫn liệu).
Loài mới Giang ly tịch có hình thái khá giống với Giang ly đuôi dài - B. longipetiolata, trên cao nguyên Đà Lạt, hai loài này có khi còn mọc xen vào nhau.