MỞ ĐẦU Tài nguyên thực vật rừng là nguồn tài nguyên vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, đặc biệt là nguồn tài nguyên cây thuốc. Từ thuở xa xưa cho đến ngày nay, đồng bào các dân tộc anh em trên đất nước ta đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc chữa bệnh. Cùng với những kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã chứng minh cơ sở khoa học của những cây thuốc qua thành phần hoá học, tác dụng kháng khuẩn, sát trùng. chúng ta càng thấy rõ giá trị của nó.
Các cây thuốc phân bố rộng và đa dạng. Số loài cây thuốc được ghi nhận vào năm 2006 là có 3849 loài chiếm khoảng 35% trong hệ thực vật Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, sự đa dạng sinh học nói chung, đa dạng cây thuốc nói riêng đang bị tổn thương và suy thoái nghiêm trọng, nguyên nhân sâu xa do sự gia tăng dân số và sự đói nghèo. Một nguyên nhân không kém phần quan trọng, do nhận thức chưa đúng đắn về nguồn tài nguyên cây rừng, người ta chỉ hiểu đơn giản là cung cấp gỗ mà ít chú ý tới giá trị các sản phẩm khác.
Chính vì vậy đã dẫn đến quá trình khai thác quá mức, sử dụng lãng phí và làm suy giảm một cách nhanh chóng nguồn tài nguyên cây thuốc quý giá này. Hơn thế nữa, một thực tế khi hoàn cảnh sống thay đổi thì kinh nghiệm về sử dụng cây thuốc chữa bệnh ngày bị mai một. Cùng với tốc độ phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thử thách lớn khi môi trường ngày càng bị ô nhiễm, thiên tai xảy ra liên tiếp, xuất hiện nhiều bệnh tật mới mà thuốc tây dần dần không thể chữa được. Vì vậy, hiện nay không chỉ các nước đang phát triển mà cả những nước phát triển đang quan tâm đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc.
c Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, Vườn Quốc gia Cát Bà - Thành phố Hải Phòng không nằm ngoài tình trạng trên, các hệ sinh thái bị rối loạn và suy giảm tính đa dạng sinh học ở nhiều khu vực trong vườn. Ở Vườn Quốc gia Cát Bà cho đến nay các công trình nghiên cứu có tính hệ thống về khu hệ thực vật, tổ thành thực vật và việc đánh giá tính đa dạng sinh vật mới đang được tiến hành. Còn nghiên cứu về cây thuốc vẫn chưa được quan tâm chú ý đến nhiều. Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn Quốc gia Cát Bà và vùng đệm (Hải Phòng) làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững”.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CÂY THUỐC Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI Vấn đề Dân tộc, Thực vật học đã được hình thành ngay từ khi xuất hiện con người để sống và đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, con người đã sử dụng các cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của mình (như cây làm thức ăn, cây làm nhà ở, cây làm thuốc, cây đầu độc chim thú. Từ những kinh nghiệm đó dần dần đã hình thành một khoa học gọi là Dân tộc Thực vật học. Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ.
Nhân dân ta đã biết sử dụng cây cỏ làm thuốc từ rất lâu. Trong sự phát triển của loài người, mỗi dân tộc mỗi quốc gia đều có những nền Y học cổ truyền riêng, việc tìm nguồn thức ăn, nước uống với cây thuốc chỉ là một. Và các kinh nghiệm dân gian được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của quốc gia đó. Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ [27].
Trong cuốn sách "Cây thuốc Trung Quốc" xuất bản 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách có giá trị. Từ đời nhà Hán (168 năm trước CN) tại Trung Quốc trong cuốn sách "Thủ hậu bị cấp phương" tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê c được 12000 vị thuốc trong tập "Bản thảo cương mục" được NXB.
Y Học trích dẫn 1963 [27]. Theo Fujiki (Nhật Bản) cùng các nhà khoa học ở Viện hàn lâm Hoàng Gia Anh thì Chè xanh (Thea sinensis L.) còn ngăn chặn sự phát triển các loại ung thư gan, dạ dày nhờ chất Gallat epigallocatechine (Theo báo KH & ĐS số 46, 1996). Thần Nông là người đã sưu tầm và ghi chép nên 365 vị thuốc đông y trong cuốn sách “Mục lục thuốc thảo mộc”. Từ thời cổ xưa các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa vết thương, vết loét,.
chóng lành sẹo [27] mà ngày nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có tác dụng liền sẹo thông qua khả năng kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa [27]. Hay kinh nghiệm của người cổ Hy Lạp và La Mã dùng vỏ quả óc chó (Juglans regia L.) để chữa vết loét, vết thương., lâu ngày không liền sẹo [27]. Ở Cu Ba, người ta đã dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya) để kích thích tổ chức hạt ở các vết thương phát triển [27]. Ở Pê Ru người ta dùng hạt của cây Sen cạn (Tropaeolum majus) để điều trị bệnh phổi và bệnh đường tiết niệu [27].
Y học dân tộc Bun Ga Ri "Đất nước của hoa hồng" đã coi Hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta đã dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh rằng trong cánh Hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosid, tinh dầu đáng kể. Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh. Nhân dân Ấn Độ dùng lá cây Ba ché (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để chữa kiết lỵ và tiêu chảy.
c Đồng bào Philíppin dùng vỏ cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) sắc làm thuốc cầm máu, hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi [27]. Tỏi được dùng để chống bệnh đau màng óc, xơ động mạch, huyết áp cao, ung thư, viêm đường ruột. Lá của cây (Psychotria rubra) được phụ nữ Philippin dùng chữa kinh nguyệt không đều, lá và hoa chữa ho, giun, giúp tiêu hóa tốt. Galien đã xem tỏi (Allium sativum) là một loại thuốc chữa bệnh của người nông thôn có tác dụng lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa hen xuyễn, vàng da, đau răng và các bệnh về da.
Ở Malaixia cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau khi đẻ uống hoặc lấy lá giã nhỏ vắt nước cốt cho trẻ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà. Ở Căm pu chia, Malaixia, dùng toàn cây Hương nhu tía (Ocimun sanctum) rễ trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi trị long đờm hoặc lá giã nát dắp trị bệnh ngoài da, khớp [27]. Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và đã được các nhà khoa học kiểm chứng (Trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and Sontheast Asia"1985 [27]. Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm Y học cổ truyền, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh.
Tokin, Klein, Penneys, đã công nhận rằng hầu hết cây cỏ đều có tính kháng sinh đó là một trong các yếu tố miễn dịch tự nhiên. Tác dụng kháng khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp như: các chất Phenolic, antoxyan, các dẫn chất quinon, alcaloid, heterosid, flavonoid, saponin. (1982) trong vòng gần hai c trăm năm trở lại đây, ít nhất đã có 121 hợp chất hóa học tự nhiên đã nắm được cấu trúc, mà được chiết từ cây cỏ với mục đích làm thuốc hoặc từ đó tổng hợp nên các loại thuốc chữa trị có hiệu quả. Như từ cây Lô hội (Aloe vera) theo Gotthall (1950) đã phân lập được chất Glycosid barbaloin có tác dụng với vi khuẩn lao người và tác dụng với Baccilus subtilic [27].
Lucas và Lewis (1944) đã chiết từ Kim ngân (Lonicera sp.) một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả lị, mụn nhọt [27]. Người ta cũng đã chiết được becberin từ cây Hoàng liên (Coptis chinensis). Theo Gilliver (1946) thì Becberin có tác dụng chữa bệnh đường ruột và kiềm chế một số giống vi khuẩn làm hại cây côí. Lebedev thì có nhận xét Becberin có tác dụng đối với tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn ho gà, trực khuẩn lị, thương hàn, và trực khuẩn lao [27].
Trong lá và rễ Hẹ (Allium odorum) có các hợp chất Sulfua, saponin và chất đắng. Năm 1948, Shen - Chi - Shen phân lập được một hoạt chất Odorin có tác dụng ít độc với động vật cao cấp, nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn. Trong hạt phát hiện thấy có thêm Alcaloid có tác dụng với vi khuẩn Gram+, Gram -, Nấm [27]. Trong nhiều loài Ba gạc (Rauwolfia sp.) chiết được chất Resecpin, Serpentin làm thuốc hạ huyết áp.
Chất Vinblastin, Vincristin được chiết từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa làm thuốc chống ung thư máu. Hoặc strophantin được chiết từ các loài Sừng dê (Strophanthus sp.) dùng làm thuốc trợ tim đã nhiều thập kỷ nay. Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hóa học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc bán tổng hợp hóa học, một số loại thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lượt ra đời. Gần đây, theo thống kê của tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (Trong tổng số 250.