Đặt vấn đề Rừng có vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ sự phát triển bền vững môi trường của mỗi quốc gia. Đặc biệt, Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên rừng, đất rừng khá đa dạng và phong phú, phân bố khắp gần như trên tất cả các tỉnh thành trong toàn quốc. Theo số liệu năm 2012, diện tích đất lâm nghiệp lên tới 15,4 triệu ha (chiếm 58,5% diện tích đất nông nghiệp; chiếm 46,4% tổng diện tích toàn quốc , chưa kể hơn 2,7 triệu đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá chưa có rừng cây. Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 25 triệu người, trong đó có khoảng 12 triệu đồng bào các dân tộc thiểu số có cuộc sống khó khăn và phụ thuộc vào rừng.
Vì vậy, ngành lâm nghiệp có vai trò đáng kể trong tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và góp phần cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng núi cùng với những người làm nghề rừng. Bên cạnh đó ngành lâm nghiệp còn có vai trò vô cùng lớn, đó là vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái. Bởi vì rừng có chức năng phòng hộ như hạn chế sói mòn, lũ lụt, hạn hán, điều khóa khí hậu, giảm thiểu tiếng ồn. Vai trò này ngày càng quan trọng, do Việt Nam là một nước có bờ biển dài và địa hình dốc, nên Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động xấu nhất của quá trình biến đổi khí hậu.
Vì thế, đánh giá đúng vai trò, vị trí của ngành lâm nghiệp và tăng cường công tác bảo vệ, phát triển rừng là trọng trách của ngành lâm nghiệp không chỉ đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước mà còn là trọng trách đối với công tác chống biến đổi khí hậu của quốc tế. Tuy nhiên, có một số nguyên nhân làm 2 cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp đó là: áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, nghèo đói hoàn cảnh kinh tế khó khăn, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp, kiến thức bản địa chưa được phát huy, hoạt động khuyến nông, khuyến lâm chưa phát triển, chính sách Nhà nước về quản lý rừng cộng đồng còn nhiều bất cập, cơ cấu xã hội truyền thống có nhiều thay đổi. Hiện trạng này đang đặt ra một vấn đề là trong khi xây dựng các quy định về quản lý bảo vệ rừng trên phạm vi cả nước, phải nghiên cứu và tính toán nhu cầu thực tế chính đáng của người dân mới có thể đảm bảo tính khả thi của các quy định, đồng thời bảo đảm cho rừng không bị khai thác lợi dụng quá mức, ảnh hưởng xấu đến chức năng của rừng tự nhiên. Thực tiễn đã chứng minh rằng các giải pháp nhằm phục hồi rừng, quản lý rừng bền vững chỉ có thể giải quyết thỏa đáng một khi có sự hiểu biết đầy đủ về bản chất quy luật sống về hệ sinh thái rừng.
Do nghiên cứu cấu trúc rừng được xem là cơ sở quan trọng nhất, giúp các nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỷ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền. Ở nước ta để có cơ sở cho trồng rừng hỗn giao đảm bảo tính khoa học và thực tiễn góp phần tích cực trong trồng rừng phòng hộ. Bản chất mỗi quan hệ giữa các loài cây với nhau là rất biện chứng bởi có những cây mang mối quan hệ tương trợ. Để có cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ giữa các loài cây một cách rõ ràng hơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ''Nghiên cứu m i quan hệ t nhiên gi a các loài cây rừng với loài cây Thung (Tetrameles nudiflora) và cây Phay (Duabanga sonneratioides Buch-Ham) tại vƣờn Qu c gia Ba Bể, t nh Bắc Kạn" 3 1.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được cấu trúc rừng nơi sinh sống của hai loài cây Thung (Tetrameles nudiflora) và loài cây Phay (Duabanga sonneratioides Buch-Ham) Tại vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác định mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng khác với hai loài cây Thung (Tetrameles nudiflora )và loài cây Phay (Duabanga sonneratioides Buch-Ham) Tại vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. - Đề xuất được tập đoàn cây trồng rừng hỗn giao với loài cây Thung (Tetrameles nudiflora) và loài cây Phay (Duabanga sonneratioides Buch-Ham). Tại vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nói riêng và các v ng sinh thái tương tương tự nói chung.
Ý nghĩa nghiên cứu khoa học 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Bổ sung những cơ sở khoa học và thực tiễn về mối quan hệ tự nhiên giữa các loài cây rừng. Đồng thời giúp cho sinh viên tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề thực tiễn của khoa học đặt ra. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất Trên cơ sở các quy luật quan hệ tự nhiên giữa các loài giúp ta lựa chọn chỉ ra những loài cây có mối quan hệ mật thiết để xây dựng tập đoàn cây trồng rừng phục vụ trồng rừng phòng hộ hỗn giao hiện nay, nâng cao năng suất của rừng.
4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Vấn đề tái sinh phục hồi rừng ở nước ta đã được đặt ra từ rất sớm, từ đầu những năm 50 đến 60 của thế kỷ 20 và được sử dụng với cụm từ “khoanh núi nuôi rừng”, tuy nhiên trong một khoảng thời gian dài, ngành lâm nghiệp phải tập trung khai thác rừng tự nhiên để phục vụ cho công cuộc khôi phục và phát triển miền Bắc, đồng thời chi viện cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam. Đến đầu thập kỷ 1970, lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh trồng rừng với “tham vọng phủ xanh đất trống đồi núi trọc” trong kế hoạch 5 năm lần 1 và lần 2 như đã được nêu tại các Nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Nhà nước vào giai đoạn này. Do vậy việc “khoanh núi nuôi rừng” lúc này gần như là một khẩu hiệu nên kết quả và tác dụng rất hạn chế.
Đến giữa những năm 1980, “Khoanh núi nuôi rừng” mới được định hình và chuyển hướng thành thuật ngữ mới là: Phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh”. Phục hồi rừng có thể được hiểu một cách khái quát là quá trình ngược lại của sự suy thoái. Theo quá trình diễn thế, sau khi phải chịu những tác động phi tự nhiên phá vỡ bằng sinh thái; với khả năng tự điều chỉnh tự nhiên và cơ chế nội cân bằng sinh thái thì nó có xu hướng vận động thiết lập một trạng thái cân bằng mới (gần giống với trạng thái ban đầu , quá trình này được gọi là diễn thế phục hồi. Nhưng với những tác động quá mạnh vượt ra ngoài ngưỡng tự điều chỉnh của hệ sinh thái rừng thì quá trình phục hồi lại sẽ rất chậm hoặc thậm chí nó không xảy ra.
Lúc này cần những hoạt động của con người nhằm thúc đẩy quá trình đó hoạt động mạnh nhất trong thời gian ngắn nhất. Như vậy, hoạt động phục hồi rừng được hiểu là các hoạt động có ý thức của con người nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng. Để phục hồi lại các hệ sinh thái rừng đã 5 bị thoái hoá, chúng ta có rất nhiều lựa chọn tùy thuộc vào từng đối tượng và mục đích cụ thể. Lamb và ilmour (2003 đã đưa ra ba nhóm hành động nhằm làm đảo ngược quá trình suy thoái rừng là cải tạo, khôi phục và phục hồi rừng.
Các khái niệm này được hiểu như sau: - Cải tạo hay là thay thế (reclamation or replacement): Khái niệm này được hiểu là sự tái tạo lại năng suất và độ ổn định của một lập địa bằng cách thiết lập một thảm thực vật hoàn toàn mới để thay thế cho thảm thực vật gốc đã bị thoái hoá mạnh. Ở vùng nhiệt đới, các xã hợp thực vật được thay thế này thường đơn giản nhưng lại có năng suất cao hơn thảm thực vật gốc. Các lập địa rừng nghèo kiệt, trảng cây bụi… là đối tượng của hoạt động này và cũng là những cơ hội cho việc thiết lập các rừng công nghiệp sử dụng các loài cây nhập nội sinh trưởng nhanh hơn và có giá trị kinh tế cao hơn so với thảm thực vật gốc. - Khôi phục (restoration): Hiểu một cách chính xác về mặt lý thuyết thì khôi phục lại một khu rừng bị suy thoái (rừng nghèo là đưa khu rừng đó trở về nguyên trạng ban đầu của nó.
Đưa về nguyên trạng bao gồm cả các thành phần thực vật, động vật và toàn bộ các quá trình sinh thái dẫn đến sự khôi phục lại hoàn toàn tính tổng thể của hệ sinh thái. - Phục hồi (rehabilitation): Khái niệm phục hồi rừng được định nghĩa như là gạch nối (trung gian) giữa cải tạo và khôi phục. Trong trường hợp này, một vài cố gắng có thể được thực hiện để thay thế thành phần dễ thấy nhất của thảm rừng gốc, đó thường là tầng cây cao bao gồm cả các loài bản địa được thay thế bằng các loài có giá trị kinh tế và sinh trưởng nhanh hơn. Ngoài ba nhóm hành động này, việc phục hồi rừng còn bao gồm: - Trồng rừng (afforestation): Trồng rừng được hiểu là sự chuyển đổi từ đất không có rừng thành rừng thông qua trồng cây, gieo hạt thẳng hoặc xúc tiến tái sinh tự nhiên (Smith, 2002).
6 - Trồng lại rừng (reforestation): Là hoạt động trồng rừng trên đất không có rừng do bị mất rừng trong một thời gian nhất định. Sự khác nhau giữa trồng lại rừng và trồng rừng nằm ở thời gian không có rừng của đối tượng (đất trồng rừng), hoạt động trồng rừng ở đối tượng có thời gian rất lâu không phải là rừng thì gọi là trồng rừng; còn hoạt động đó trên đối tượng mới không có rừng trong thời gian ngắn thì gọi là trồng lại rừng. Trong nhiều trường hợp, trồng rừng, trồng lại rừng được hiểu đồng nghĩa với sự cải tạo (hay là sự thay thế). Theo chúng tôi thì nên hiểu cải tạo rừng là hoạt động thay thế rừng nghèo kiệt thành rừng trồng có năng suất cao hơn, còn trồng rừng và trồng lại rừng là hoạt động gây lại rừng trên đất trống đồi núi trọc.
Phục hồi rừng có thể được giải thích như một phương pháp phối hợp giữa các hoạt động thay thế, phục hồi và khôi phục. Hoạt động phục hồi có thể thay đổi tuỳ thuộc vào mục đích, điều kiện của đối tượng (rừng nghèo) và rừng mong muốn đạt đến.