Đặt vấn đề - Thực trạng giao thông Trong những năm gần đây, tình hình ùn tắc giao thông tại thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) ngày càng trầm trọng do sự gia tăng quá nhanh của các loại phương tiện và hành trình giao thông; vận tốc đi lại trung bình đã chậm hơn nhiều so với các năm trước, đặc biệt là xe ô tô hiện rất khó đi lại trong nội đô thành phố. Theo Báo cáo kinh tế xã hội quý I/2013 của UBND TP HCM, tính đến hết năm 2011, tổng số phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố là gần 5.000 xe, trong đó xe ô tô là hơn 494. Tính đến hết tháng 11/2012 số phương tiện tăng lên thành hơn 5.000 xe, với gần 515. Và đến hết tháng 3/2013 số phương tiện trên địa bàn TP HCM đã chính thức vượt qua con số 6 triệu chiếc.
Hình ảnh dễ nhận thấy là trên các trục giao thông chính và trên các đường ở trung tâm thành phố, dòng xe ô tô dừng chờ rất dài khi qua các giao lộ và để qua được một giao lộ trung bình phải mất từ 2 - 3 chu kỳ đèn tín hiệu giao thông; hiện tượng này là một trong những nguyên nhân chính gây ra ùn tắc và rối loạn giao thông. Vào giờ cao điểm buổi chiều, trên các trục giao thông chính, trục xuyên tâm, từng dòng xe buýt di chuyển rất chậm qua các giao lộ và bị bao vây bởi một rừng xe hai bánh. Với sự gia tăng nhanh chóng của các loại xe ô tô trong khi hệ thống bãi đậu xe không kịp phát triển để đáp ứng nhu cầu, thiếu chỗ đậu xe, … dẫn đến tình trạng dừng đậu xe tràn lan ở khắp nơi, nhất là ở khu vực trung tâm thành phố, làm đường sá thêm chật chội và các hành vi vi phạm Luật Giao thông ngày càng nhiều. Hiện nay, trên địa bàn thành phố còn tồn đọng 33 điểm có nguy cơ xảy ra ùn tắc giao thông cao, chủ yếu tập trung trên các trục giao thông chính như: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Thị Minh Khai, Cách Mạng Tháng 8, Pasteur, Hai Bà Trưng, Phan Đình Phùng, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Kiệm, Lý Thường Kiệt, Âu Cơ, Lạc Long Quân, Lũy Bán Bích, …; nổi bật ở các giao lộ 7 Ngã tư Phú Nhuận, Hai Bà Trưng/Võ Thị Sáu, Nguyễn Thái Học/Trần Hưng Đạo, Trần Hưng Đạo/Nguyễn Tri Phương (quận 1), Quốc lộ 13/Nguyễn Xí, Phan Đăng Lưu/Nơ Trang Long, Nguyễn Văn Đậu/Lê Quang Định (Bình Thạnh), Trường Chinh/Tân Kỳ-Tân Quý (Tân Bình), … Để góp phần giải quyết các vấn đề giao thông còn tồn tại thì chúng ta cần nghiên cứu kĩ về các yếu tố sau: cơ sở hạ tầng giao thông; tổ chức, quản lý giao thông; công tác vận tải hành khách công cộng; các chính sách quản lý giao thông.
Bằng việc thực hiện các nghiên cứu về các vấn đề này, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp cho nhu cầu đi lại của người dân, ổn định tình hình giao thông trong thành phố để có thể giảm bớt tình trạng giao thông ùn tắc hiện nay.2 Cơ sở hình thành đề tài Từ tình hình giao thông của thành phố, tác giả đưa ra các vấn đề tồn tại ảnh hưởng đến thực trạng giao thông hiện nay. Phát triển đô thị vẫn còn mang tính tập trung cao: các kịch bản quy hoạch đều đề xuất về xây dựng những đô thị vệ tinh, với bán kính từ 30 - 50Km có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội nhưng xu hướng phát triển tập trung vào trung tâm thành phố vẫn xảy ra; công tác di dời các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở công nghiệp ô nhiễm, công nghiệp lạc hậu ra bên ngoài thành phố đã có những chuyển biến tốt, nhưng việc xây dựng điều kiện ăn, ở, trường học, bệnh viện, … không đáp ứng được nhu cầu; phần lớn các bệnh viện, trường học lớn vẫn duy trì và đầu tư mở rộng trong nội đô thành phố đã tạo một lượng lớn hành trình giao thông vào sâu trong nội đô thành phố; tuyến đường sắt quốc gia hiện nay vẫn đi sâu vào ga Hòa Hưng, giao cắt với 14 tuyến đường nội đô dù đã có những nghiên cứu đầu tư đi trên cao, nhưng nhiều năm rồi vẫn chưa tìm được nguồn vốn đầu tư. Trình độ quản lý đô thị vẫn còn kém: việc quản lý trật tự lòng lề đường chưa được chính quyền các quận - huyện chỉ đạo quyết liệt, tình trạng chiếm dụng trái phép buôn bán tràn lan còn phổ biến làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông; đặc biệt vẫn tồn tại nhiều chợ tự phát lấn chiếm lòng lề đường ở nhiều khu vực …; công 8 tác quản lý đô thị nhìn chung còn nhiều bất cập. Quản lý và tổ chức giao thông đô thị chưa hợp lý: tốc độ đi lại của xe 02 bánh vào giờ cao điểm buổi chiều hiện nay chỉ còn khoảng 10Km/giờ, tốc độ hành trình của các loại xe ô tô trên các trục giao thông chính như Bạch Đằng - Hoàng Văn Thụ, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Kiệm - Hai Bà Trưng, Nguyễn Văn Trỗi - Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Pasteur, … chỉ còn khoảng 8Km/giờ; thời gian đi lại từ phía Đông sang phía Tây thành phố và từ phía Bắc sang phía Nam thành phố tăng gấp đôi so với giờ thấp điểm; chưa phát huy được hiệu quả của Trung tâm Điều khiển đèn tín hiệu giao thông thành phố trong công tác quản lý và điều khiển giao thông bằng đèn tín hiệu điều hành giao thông; năng lực giải tỏa, thi công, sự phối hợp của các cơ quan quản lý hạ tầng kỹ thuật như cấp điện, cấp thoát nước, … còn yếu, chậm trễ dẫn đến kéo dài thời gian chiếm dụng mặt đường giao thông cũng là một trong các vấn đề tồn tại mà thành phố phải giải quyết.
Phương tiện giao thông cá nhân tăng nhanh: hiện tại, thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước thách thức lớn bởi sự tăng trưởng mạnh của các loại phương tiện giao thông cá nhân và cần có biện pháp hiệu quả để kiềm chế ngay. Tăng dân số quá nhanh: dân số thành phố năm 2001 là 5.454 người, đến cuối năm 2006 là 6. Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật giao thông đường bộ của người tham gia lưu thông còn kém: Theo số liệu thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an thành phố, tỷ lệ người vi phạm Luật Giao thông vẫn gia tăng hàng năm. Người tham gia giao thông vẫn có khuynh hướng không nhường đường, tình trạng sai phạm lấn trái, vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm… thường xuyên xảy ra.
Ý thức chấp hành pháp luật giao thông còn kém ở đại bộ phận những người tham gia giao thông đã làm tăng thêm nguy cơ gây ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông còn nhiều. Từ những nguyên nhân trên, việc chọn ra một hướng nghiên cứu để góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại của thực trạng giao thông ở TP HCM là một 9 nhu cầu cấp thiết. Trong đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu về mật độ giao thông và vận tốc xe khi lưu thông, tính toán chi phí lưu thông qua từng tuyến đường, xác định khả năng thông hành lớn nhất của đường để có thể quản lý và tổ chức giao thông một cách hợp lý là một phần quan trọng, đây có thể xem là yếu tố then chốt trong việc giảm ùn tắc và kẹt xe vì nghiên cứu có thể được áp dụng ngay vào thực tế trong tình hình cơ sở hạ tầng giao thông hiện nay ở TP HCM. Thiết nghĩ đây là một đề tài thiết thực cho tình trạng giao thông ở TP HCM hiện nay, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mối quan hệ giữa lưu lượng, vận tốc và mật độ trong dòng xe gắn máy tại TP HCM”.3 Mục tiêu nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: - Từ những cơ sở hình thành đề tài như trên, đề tài nghiên cứu xác định các thông số cơ bản của dòng xe gắn máy ở TP HCM như lưu lượng xe, vận tốc xe, mật độ xe và chi phí lưu thông trên từng tuyến đường qua việc khảo sát một số tuyến đường trên địa bàn thành phố.
- Nghiên cứu các mối quan hệ giữa các thông số cơ bản này bằng cách thiết lập các mô hình biểu đồ, từ đó tìm ra khả năng thông hành lớn nhất của đường từ các biểu đồ quan hệ giữa vận tốc và mật độ, giữa chi phí và lưu lượng xe để đánh giá, so sánh giữa hai giá trị này nhằm sử dụng trong quá trình quy hoạch, lên kế hoạch thiết kế, khai thác công trình giao thông và đưa ra dự báo quản lý giao thông một cách hợp lý và hiệu quả. Phạm vi nghiên cứu: các dòng xe lưu thông trong thành phố chủ yếu là dòng xe hỗn hợp với các phương tiện khác nhau như: ôtô, xe tải, xe máy, xe thô sơ … trộn lẫn với nhau. Trong nội dung nghiên cứu, tác giả nghiên cứu dòng xe với lượng xe lưu thông chiếm đa số là dòng xe gắn máy trên một làn xe lưu thông ở TP HCM trên cơ sở nghiên cứu tài liệu kết hợp với khảo sát thực tế.4 Những nghiên cứu liên quan Trên thế giới đã có nhiều tài liệu về việc nghiên cứu các đặc tính của dòng xe 10 nhưng đa phần là các nghiên cứu về dòng xe ôtô, là phương tiện giao thông chiếm đa số ở các nước phát triển, có rất ít các nghiên cứu về dòng xe gắn máy, vốn là phương tiện giao thông cơ bản ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu và lý thuyết về dòng xe với phương tiện lưu thông chủ yếu là xe ôtô đã được trình bày ở Chương 15, sách Traffic Engineering của các tác giả William R.
McShane và Roger P. Roess, mục đích của việc nghiên cứu này là để xác định và phân tích khả năng thông hành của đường dựa vào các biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa các thông số của dòng xe. Bài báo The speed, flow and headway analyses of motorcycle traffic (2005) của các tác giả Chu Cong Minh, Kazushi Sano, Shoji Matsumoto cung cấp những hiểu biết cơ bản về đặc tính của dòng xe gắn máy thông qua việc ghi hình tại một số tuyến đường ở Hà Nội. Bài báo Distribution model of motorcycle speed on divided roadway in Makassar (2011) của các tác giả Aisyah Zakaria, Sumarni Hamid Aly, Muhammad Isran Ramli cung cấp một vài mô hình phân bố về vận tốc của dòng xe gắn máy dựa trên việc ghi hình giao thông tại các thời điểm khác nhau để xác định vận tốc của dòng xe.