đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. 2 – Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong phần này, tác giả trình bày (1) tổng quan về lý thuyết tín dụng, (2) tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm đã tồn tại trên thế giới xoay quanh mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Đồng thời, (3) tác giả cũng nêu lên một số thực trạng tại Việt Nam liên quan đến tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. 3 – Phương pháp nghiên cứu Trong phần này, tác giả trình bày giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, cách xây dựng các biến trong mô hình cũng như các dữ liệu cần thiết để thực hiện nghiên cứu.
4 – Kết quả nghiên cứu Trong phần này, tác giả thực hiện các mô tả thống kê các biến, phân tích tương quan, thực hiện các kiểm định của mô hình hồi quy… Trình bày và thảo luận các kết quả hồi quy trong mô hình thực nghiệm tại Việt Nam. 5 –Kết Luận Trong phần này, tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu. Những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo cũng được trình bày. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong phần này, tác giả sẽ trình bày 3 nội dung: (1) tổng quan về lý thuyết tín dụng nói chung và tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng nói riêng. (2) Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Đồng thời (3) tác giả cũng nêu lên thực trạng tại Việt Nam, về 2 đối tượng: tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Từ đó, xem xét, liệu rằng ở Việt Nam có tồn tại mối quan hệ giữa 2 đối tượng này hay không.
Ngoài ra, tác giả cũng xem xét các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) đến Việt Nam. Từ đó, nêu lên thực trạng chính sách tiền tệ của Việt Nam có thắt chặt trong giai đoạn xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, từ đó tác động lên hoạt động của các doanh nghiệp. Tổng quan về lý thuyết tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,.
Tín dụng được xem như là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn. Tín dụng cũng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội, góp phần thực hiện chính sách xã hội. Theo đó, tín dụng cũng được phân ra thành: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tín dụng thương mại Tín dụng ngân hàng Tín dụng nhà nước Tín dụng tiêu dùng Tín dụng quốc tế Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào 2 đối tượng chính là tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa. Hành vi mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu. Tín dụng thương mại vốn cho vay dưới dạng hàng hóa hay một bộ phận của vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi. Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu. Tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa Ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ; Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong phần này, tác giả tiến hành tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm đã tồn tại, xoay quanh mối quan hệ giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Đầu tiên, (i) giữa 2 đối tượng này, tồn tại mối quan hệ thay thế (substitution) hay bổ sung (complementary), tiếp theo, (ii) quy mô công ty (firm size), bản chất công ty (corporate nature) và ngành nghề (industries) sẽ tạo ra tác động lên mối quan hệ giữa 2 đối tượng này như thế nào. Cuối cùng (iii) tương ứng với mỗi trường hợp, tác giả cũng xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cho trường hợp của Việt Nam. Tác động thay thế (substitution) và bổ sung (complementary) giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng Các nghiên cứu trước đây đã tồn tại, vẫn chưa chỉ ra một cách rõ ràng liệu tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ bổ sung hay thay thế.
Thay vào đó, tín dụng thương mại có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung khi tín dụng ngân hàng không có sẵn (Demirguc-Kunt &Maksimovic (2001), Giannetti cùng các cộng sự (2011), Biais và Collier (1997)). Đồng thời, các công ty có khuynh hướng chuyển sang nguồn tín dụng thương mại từ các nhà cung ứng như một sự thay thế một hình thức tài trợ khác khi điều kiện tài chính xấu đi (Love cùng các cộng sự (2007); Coulibaly cùng các cộng sự (2013)). Cũng có những nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ (bổ sung và thay thế) này là diễn ra đồng thời (Yang (2011), Lin & Chou (2015). Đầu tiên, về mối quan hệ bổ sung, Demirguc-Kunt và Maksimovic (2001) thực hiện nghiên cứu với một mẫu nghiên cứu gồm các công ty sản xuất ở 40 quốc gia khác nhau.
Kết quả cho thấy việc sử dụng tín dụng thương mại như một sự bổ sung cho tín dụng ngân hàng. Biais và Collier (1997) đưa ra giả thuyết rằng việc mở rộng tín dụng thương mại giúp đưa ra những thông tin thuận lợi cho người cho vay, do đó họ sẵn sàng hơn để cho vay. Giannetti, Burkart, và Ellingsen (2011) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trên lập luận, các công ty sử dụng tín dụng thương mại thường có xu hướng vay mượn của nhiều ngân hàng hơn và có mối quan hệ trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 ngắn hạn với ngân hàng. Ngoài ra các công ty này nhận được thỏa thuận tốt hơn từ ngân hàng, đặc biệt chi phí thấp hơn với hạn mức tín dụng của họ.
Phân tích này cho thấy tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ bổ sung chứ không phải thay thế. Tiếp theo, về mối quan hệ thay thế, Love cùng các cộng sự (2007), sử dụng một mẫu nghiên cứu với 890 công ty ở sáu (06) nền kinh tế mới nổi, đã chỉ ra rằng, trước khủng hoảng, các công ty có tỷ lệ nợ ngắn hạn cao là nguồn cung tín dụng thương mại quan trọng. Tuy nhiên, sau khủng hoảng, các công ty này cắt giảm mạnh khoản tín dụng cho khách hàng và làm tăng sự phụ thuộc vào tín dụng của các nhà cung ứng (suppliers). Love cùng các cộng sự (2007) có hai kết luận chính.
Đầu tiên là có sự gia tăng trong khoản thời gian rất ngắn ở các khoản tín dụng thương mại được đề nghị và chấp nhận ngay sau khủng hoảng. Sau cú sốc khủng hoảng, người mua tạm dừng trả tiền cho nhà cung ứng, và tín dụng tích lũy cho đến khi người bán giảm lượng cung hàng hóa hoặc người mua khôi phục quá trình thanh toán; kết quả thứ hai là có một sự suy giảm rõ rệt về khoản tín dụng được cung cấp sau khủng hoảng, khoản tiền được tiếp tục kí hợp đồng được vài năm. Sự suy giảm trong tín dụng thương mại có thể là kết quả của hiệu ứng nguồn cung (supply effect); đó là các công ty không thể có được tài trợ ngân hàng, làm giảm nguồn cung tín dụng mà họ sẵn sàng cung cấp cho khách hàng. Mặt khác, người mua của các công ty này cũng ít sẵn lòng để nhận thêm nhiều tín dụng hơn.
Bên cạnh đó, Coulibaly cùng các cộng sự (2013) nghiên cứu vai trò của thắt chặt tín dụng trong giai đoạn co hẹp của toàn bộ các hoạt động kinh tế trong suốt khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, sử dụng bộ dữ liệu ở cấp độ doanh nghiệp từ sáu (06) nền kinh tế mới nổi ở châu Á. Kết quả thực nghiệm cho thấy, các công ty dễ bị tổn thương về mặt tài chính (financially-vulnerable) chuyển sang nguồn tín dụng thương mại từ các nhà cung ứng như một sự bổ sung một hình thức tài trợ khác khi điều kiện tài chính xấu đi. Cuối cùng, về mối quan hệ đồng thời, Yang (2011) kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng trong giai đoạn khủng hoảng tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chính gần đây. Kết quả của Yang cho thấy, tín dụng ngân hàng và các khoản phải trả/phải thu có mối quan hệ đồng thời và có một tác động thay thế/ bổ sung giữa tín dụng ngân hàng và các khoản phải trả/phải thu.