CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Lý do lựa chọn đề tài Thông tin kế toán có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý ở cấp độ vi mô cũng như ở cấp độ vĩ mô. Có thể nói rằng chất lượng của thông tin kế toán ảnh hưởng trực tiếp và có tính chất quyết định sự thành bại của các quyết định kinh doanh. Đặc biệt khi nền kinh tế càng phát triển và mức độ hội nhập càng sâu rộng thì vai trò của thông tin kế toán càng được mở rộng, tác động đến nhiều đối tượng khác nhau không chỉ trong phạm vi của nền kinh tế quốc gia mà còn mang tính toàn cầu.
Do đó, hệ thống kế toán phải cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị doanh nghiệp cũng như những người quan tâm đến các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán là kênh thu hút vốn nhàn rỗi quan trọng, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Để phục vụ cho sự phát triển của thị trường chứng khoán và bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, thì thông tin kế toán cần phải đảm bảo tính trung thực và minh bạch. Mặt khác chức năng quan trọng nhất của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin kế toán hữu ích cho những người sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài công ty.
Trong nhóm người sử dụng thông tin kế toán ở bên ngoài công ty, chúng ta phải kể đến các nhà đầu tư vì họ thường xuyên sử dụng báo cáo tài chính để phục vụ cho quyết định đầu tư của họ. Đặc biệt đối với các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, khi quyết định của các nhà đầu tư là mua, bán hay nắm giữ cổ phiếu thì giá trị cổ phiếu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Một trong các thông tin quan trọng hay nhân tố quan trọng giúp các đối tượng quan tâm ra các quyết định là các thông tin kế toán. Họ ra quyết định không dựa trên cảm quan của cá nhân mỗi người, mà quyết định của họ phụ thuộc vào sự tìm hiểu, hiểu biết và phân tích thông tin kế toán.
Do vậy, mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và các thông tin kế toán, đặc biệt là thông tin lợi nhuận kế toán và thông tin vốn chủ sở hữu đã được nhiều học 3 giả kế toán trên thế giới nghiên cứu. Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả thì cho đến nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào về chủ đề này, nên tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn của mình và luận văn tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thông tin kế toán đó là thông tin lợi nhuận và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. Qua đó, luận văn tìm ra được điểm tương đồng với các nghiên cứu trước đây và sử dụng các kết quả phân tích thực nghiệm đưa ra các kiến nghị. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận và vốn chủ sở hữu với giá cổ phiếu đồng thời mở rộng các tài liệu quốc tế trong nghiên cứu bằng cách kiểm tra bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và thông tin kế toán.
Từ đó, dựa trên kết quả phân tích thực nghiệm, các nhà đầu tư, nhà quản lý, và các đối tượng quan tâm khác thấy được rõ mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận và vốn chủ sở hữu với giá cổ phiếu từ đó đưa ra được quyết định đúng đắn nhất. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn tập trung vào giải quyết mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu thông qua hai câu hỏi: + Thông tin lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào với giá cổ phiếu của công ty niêm yết? + Vốn chủ sở hữu có mối quan hệ như thế nào với giá cổ phiếu của công ty niêm yết? 1. Phương pháp nghiên cứu Nhằm đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, só sánh, phương pháp định lượng … cụ thể là sử dụng phương pháp hồi qui đơn tuyến tính và đa tuyến tính với dữ liệu được lấy từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn 4 2000-2010 đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có trình độ và các tạp chí có uy tín công bố. Qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu trên thế giới, các nhà nghiên cứu trước đây đưa ra ba mô hình: mô hình chiết khấu cổ tức, mô hình thu nhập ròng và mô hình Ohlson.
Tính đến thời điểm hiện tại, mô hình Ohlson là mô hình có một vai trò hữu ích trong các nghiên cứu thực nghiệm, nó cung cấp một khuôn khổ thống nhất cho các nghiên cứu xác định giá trị mà trước đây không có một cơ sở lý thuyết nào sử dụng thông tin kế toán để giải thích cho giá cổ phiếu. Mô hình Ohlson là biểu hiện giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu hiện hành trên mỗi cổ phần, các khoản thu nhập hiện tại, cổ tức hiện tại và giá trị khác có thông tin liên quan. Bên cạnh đó, mô hình Ohlson có những hạn chế. Một là tất cả các công ty đều lựa chọn các thông số giống nhau để phân tích.
Hai là các biến đại diện cho các thông tin khác có liên quan không phải là giá trị được quy định cụ thể và do đó rất khó để kiểm tra,… Tuy vậy, mô hình đã góp phần đáng kể trong việc nghiên cứu thực nghiệm, đã cung cấp một mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và thông tin kế toán mà trước đây chưa có. Do vậy, luận văn lựa chọn mô hình Ohlson. Phạm vi nghiên cứu Do giới hạn thời gian và dữ liệu, nên luận văn sử dụng các mẫu dữ liệu được lấy từ các công ty niêm yết phi tài chính trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh trong 11 năm từ 2000 – 2010. Tất cả các công ty phi tài chính có sẵn dữ liệu cho mỗi biến đều là đối tượng được tiến hành nghiên cứu.
Sở dĩ luận văn chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính vì các công ty này có đầy đủ thông tin nhất, và chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong các loại hình công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh. Tổng quan các công trình nghiên cứu trước đây 1. Ảnh hưởng của các nguyên tắc kế toán đến mối quan hệ giữa thông tin kế toán và giá cổ phiếu Khi xem xét ảnh hưởng của sự khác biệt trong các quy tắc kế toán giữa các quốc gia, Frankel và Lee (1998) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cổ 5 phiếu với các thông tin kế toán trên cơ sở dữ liệu của 20 quốc gia như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan. Các học giả này sử dụng mô hình lợi nhuận ròng: Po = yo + (1.
Trong đó, Po là giá trị hiện tại của cổ phiếu, y o là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu tại thời điểm hiện tại, E o[.] là giá trị kỳ vọng của biến số liên quan tại thời điểm 0, r là chi phí cơ hội của dòng tiền, xa là phần chênh lệch của thu nhập thông thường sau khi trừ đi chi phí vốn chủ sở hữu. Giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và lợi nhuận dự báo được dùng để ước tính giá trị cổ phiếu của các công ty niêm yết. Sau đó, giá trị ước tính của cổ phiếu này được sử dụng như một biến số giải thích cùng với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu và lợi nhuận hiện tại trong một mô hình áp dụng mô hình của Ohlson: Pt = (1 - k) yt + k ( xt - dt) + α2 vt (1. Trong đó, Pt là giá trị của cổ phiếu tại thời điểm t; hệ số tương quan k = (R f – 1); yt là giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu tại thời điểm t; hệ số tương quan φ = Rf /(Rf – 1); dt là cổ tức tại thời điểm t với nghĩa rộng bao gồm cả các giao dịch của chủ sở hữu làm tăng hay giảm vốn chủ sở hữu như phát hành thêm hay mua lại cổ phiếu; α2 = (Rf - ω) (Rf - γ); Rf = 1 + Ro; Ro là mức rủi ro trung tính; vt là các thông tin khác ngoài thông tin thu nhập khác biệt hiện tại và hữu ích trong việc dự báo thu nhập khác biệt trong tương lai.
Kết quả nghiên cứu của mô hình phân tích thực nghiệm có tính thuyết phục cao, giá trị ước tính ở Mỹ là 88% và ở các nước khác là 72% nghĩa là giá trị ước tính dựa trên những dự báo về lợi nhuận rất quan trọng đối với tất cả 20 quốc gia vì nó luôn chi phối lợi nhuận hiện tại và giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trong việc giải thích những thay đổi của giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, các hệ số trên đem lại kết quả dự đoán tương đối ổn định qua thời gian, cho thấy mặc dù chế độ kế toán của 6 các nước khác nhau, nhưng mối quan hệ giữa giá cổ phiếu với giá trị dự báo vẫn luôn nhất quán. Các học giả sử dụng tỷ lệ chiết khấu quốc gia cụ thể để tính toán các giá trị ước tính đó, nhưng tóm lại thì giá trị ước tính dựa trên tỷ lệ chiết khấu khác nhau giữa các quốc gia không có sức thuyết phục cao. Họ tiếp tục cho rằng mô hình lợi nhuận ròng có thể là một phần không thể thiếu của nhóm giải pháp chung giúp hài hòa hóa sự đa dạng của chuẩn mực kế toán giữa các nước.
Về mặt lý thuyết, nhìn chung các giá trị dự báo trong mô hình này không phụ thuộc vào các quy tắc kế toán đã được chấp nhận trong hầu hết các báo cáo tài chính. King và Langli (1998) xem xét các mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và hai thông tin kế toán quan trọng là lợi nhuận và vốn chủ sở hữu với dữ liệu thu thập từ Đức, Na Uy và Vương quốc Anh.