chương 1 tác giả đã trình bày lý do nghiên cứu đề tài cũng như các mục tiêu nghiên cứu chính, các giả thuyết cụ thể cần phải thực hiện kiểm định và kết cấu của luận văn. Chương 2 này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài và những kết quả nghiên cứu trước đã kiểm định chiến lược đầu tư F_SCORE trên các thị trường khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu là ở các thị trường chứng khoán mới nổi. GIẢ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ (EMH): Fama (1970) cho rằng một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh đầy đủ bởi các thông tin có sẵn. Theo quan niệm này thị trường hiệu quả là thị trường: hầu như không có chi phí giao dịch, thông tin được truyền đi một cách gần như hoàn hảo, nhanh chóng kịp thời và công bằng cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường, nhà đầu tư lý tính và hành động hợp lý tuyệt đối khi tiếp nhận thông tin.thực tế hiếm có thị trường nào đáp ứng được yêu cầu này.
Về sau, có nhiều nhà nghiên cứu đã tiếp tục phát triển thêm và bổ sung cho lý thuyết này. Tổng kết lại, theo Vũ Thị Minh Luận (2010), thị trường hiệu quả là thị trường có một số đặc điểm cơ bản sau: Giá chứng khoán luôn thể hiện đúng giá trị thực. Trong thị trường hiệu quả giá cả là tín hiệu tốt nhất để phản ánh giá trị nội tại của chứng khoán đó. Giá chứng khoán phản ánh lại với các thông tin một cách tức thời.
Giá chứng khoán chỉ thay đổi khi giá trị thực của chúng thay đổi và phụ thuộcvào các thông tin tác động đến chúng. Không có một nhà đầu tư nào có thể đánh bại được thị trường một cách lâu dài và thường xuyên. Không có thị trường nào là hiệu quả hoàn toàn và các thị trường đạt hiệu quả ở một mức độ nào đó. 6 Trong đó, tính hiệu quả của thị trường được phân loại thành 3 cấp độ: cấp độ mạnh, cấp độ trung bình và cấp độ yếu.
Thị trường hiệu quả dạng mạnh: Tại cấp độ này, giá chứng khoán trên thị trường đã phản ánh tất cả các thông tin kể các thông tin nội bộ, mức độ tiếp cận thông tin của nhà đầu tư trên thị trường là như nhau và do đó không thể tạo ra được lợi nhuận vượt trội. Hầu như không tồn tại dạng thị trường này trong thực tế Thị trường hiệu quả dạng trung bình: Mức giá hiện tại đã phản ánh đầy đủ mọi thông tin được công khai trong hiện tại cũng như trong quá khứ. Các thông tin công khai gồm: các báo cáo tài chính, thông báo về cổ tức, thưởng cổ phiếu, phát hành thêm, các thông tin kinh tế vĩ mô…Và trong thị trường này những nhà đầu tư ra quyết định đầu tư sau khi thông tin được công bố sẽ không thể tạo ra lợi nhuận vượt trội do giá đã thể hiện đầy đủ thông tin. Thị trường hiệu quả dạng yếu: Giá cả chứng khoán thời điểm hiện tại là sự phản ánh các thông tin trong quá khứ (gồm các thông tin về mức giá, lợi suất cổ phiếu trong quá khứ).
Lý thuyết này cho rằng suất sinh lời trong quá khứ và tương lai của cổ phiếu là độc lập lẫn nhau, có nghĩa là không thể tìm kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng cách dựa vào các thông tin tương tự trong quá khứ, và không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai. Khi một thị trường không hiệu quả sẽ tồn tại những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá tạo ra lợi nhuận bất thường (thu nhập cao hơn bình quân của thị trường). Nhà đầu tư sẽ tìm kiếm được các chứng khoán bị định giá sai thông qua một số chiến lược đầu tư như: phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản…Và giới nghiên cứu đã chứng minh được sự tồn tại của một số hiện tượng bất thường luôn thách thức tính hiệu quả của thị trường như: hiệu ứng giá trị, hiệu ứng quy mô, hiệu ứng tháng Giêng, hiệu ứng lợi nhuận kế toán dồn tích (Accruals), hay một số chiến lược đầu tư như chiến lược đầu tư thuận xu thế, hoặc chiến lược đầu tư ngược xu thế, chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị/ tăng trưởng… 7 Ngoài ra Vũ Thị Minh Luận (2009) cũng cho rằng khi thị trường không hiệu quả hoặc hiệu quả ở dạng yếu thì trường phái phân tích cơ bản sẽ thật sự chiếm ưu thế, và trong dài hạn khi nhiều nhà đầu tư sử dụng phương pháp phân tích cơ bản sẽ dần đưa thị trường trở nên hiệu quả hơn do giá cả lúc này đã dần phản ánh đúng giá trị thực của các chứng khoán. Và kết quả kiểm định cho thấy: thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường không hiệu quả.
CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU GIÁ TRỊ: 2. Cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng trưởng Từ giai đoạn cuối những năm 1990 hai chiến lược đầu tư giá trị và đầu tư tăng trưởng bắt đầu được biết đến rộng rãi. Đầu tư giá trị chủ yếu dựa vào phân tích báo cáo tài chính, lịch sử hoạt động của công ty trong khi đầu tư tăng trưởng chủ yếu dựa trên những kỳ vọng và dự đoán khả năng tăng trưởng mạnh về lợi nhuận trong tương lai của cổ phiếu và thường được xem xét theo xu thế thị trường. Bodie và ctg (2010) cho rằng chiến lược đầu tư giá trị ra đời từ rất sớm, do hai tác giả Benjamin Graham và David Dodd thể hiện trong tác phẩm “Phân tích chứng khoán” năm 1934.
Tư tưởng chủ đạo của chiến lược đầu tư giá trị là: sử dụng công cụ phân tích cơ bản để tìm kiếm những cổ phiếu tạm thời bị thị trường định giá thấp so với giá trị nội tại, giá trị tài sản của công ty tại một thời điểm. Nhà đầu tư giá trị thường tìm kiếm các cổ phiếu “dưới giá trị” nhưng có triển vọng tốt cho tăng trưởng bằng cách xem xét một hoặc nhiều các chỉ số tài chính như tỷ số P/E thấp, chỉ số BM cao, chỉ số CF/P cao…Mục tiêu chính của các nhà đầu tư giá trị là cố gắng lựa chọn được những công ty có nền tảng hoạt động tốt, vững chắc nhưng tạm thời bị thị trường quên lãng và kỳ vọng sẽ hưởng lợi từ sự tăng giá trong tương lai khi thị trường nhìn nhận đúng giá trị thực của nó. Ngược lại, theo Discovery Invest (2012), nhà đầu tư tăng trưởng sẽ tìm kiếm những cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng trên mức trung bình chủ yếu là tập trung vào 8 các cổ phiếu tăng trưởng cao, ngay cả khi giá cổ phiếu dường như đắt hơn khi so sánh với các chỉ tiêu như giá trị sổ sách, thu nhập trên mỗi cổ phiếu…Do đó, mục đích của những nhà đầu tư tăng trưởng là nhắm đến các cổ phiếu đang tăng trưởng nhanh và kỳ vọng còn tiếp diễn đà tăng trưởng cao trong thời gian tới. Thông thường các cổ phiếu tăng trưởng là những công ty có doanh thu, lợi nhuận và tốc độ tăng trưởng tăng nhanh trong vài năm qua, thuộc các nhóm ngành có sản phẩm dịch vụ mới, tân tiến, ít cạnh tranh, sức mạnh thị trường lớn.
Các công ty này thường có nguồn quỹ nội bộ lớn, chú trọng cho việc tái đầu tư, mở rộng phát triển nên có hệ số nợ thấp và ít trả cổ tức…Vì lý do đó, nhà đầu tư tăng trưởng thường tập trung vào các cổ phiếu có hệ số P/E cao, BM thấp, hoặc hệ số CF/P thấp, D/P thấp. Tóm lại, trong cả hai chiến lược trên, nhà đầu tư đều tìm kiếm cổ phiếu giá rẻ được bán với giá thấp hơn giá trị thực (giá trị kinh tế) theo đánh giá của riêng họ. Trong khi các nhà đầu tư tăng trưởng tính toán giá trị kinh tế dựa trên kỳ vọng và dự báo các chỉ số trong tương lai, thì các nhà đầu tư giá trị tính toán giá trị kinh tế bằng cách phân tích và nhìn lại các chỉ số trong quá khứ. Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã so sánh hiệu quả đầu tư giữa hai chiến lược này và phần lớn kết quả cho thấy lợi nhuận của cổ phiếu giá trị vượt trội hơn so với nhóm cổ phiếu tăng trưởng.
Các nghiên cứu về lợi nhuận của cổ phiếu giá trị so với cổ phiếu tăng trưởng: Basu (1977) đã phát hiện rất sớm hiệu quả của chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị so với cổ phiếu tăng trưởng. Ông thấy rằng các cổ phiếu có hệ số P/E thấp (được xem là các cổ phiếu giá trị) có lợi nhuận vượt trội hơn so với các cổ phiếu có hệ số P/E cao (được xem là các cổ phiếu tăng trưởng); tuy nhiên trước đó không có nghiên cứu nào đề cập về khái niệm cổ phiếu giá trị hoặc cổ phiếu tăng trưởng, mãi đến đầu những năm 1990 những khái niệm của vấn đề này mới trở nên phổ biến sau khi hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm ra đời. Từ sau nghiên cứu của Basu (1977) giới học thuật bắt đầu chú ý hơn về hiện tượng lợi nhuận bất thường này, và nhiều nghiên cứu về sau đã bổ sung thêm các bằng 9 chứng cho thấy cổ phiếu giá trị có lợi nhuận vượt trội hơn so với cổ phiếu tăng trưởng (Rosenberg và ctg, 1985; Debondt và Thaler, 1987; Chan và ctg, 1991; Fama và French, 1992, 1995, 1998 và Lakonishok và ctg, 1994), trong có nhiều hệ số được sử dụng làm tiêu chí để phân biệt giữa cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng trưởng, bao gồm: Hệ số BM hoặc P/B: hệ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (hoặc ngược lại) Hệ số E/P hoặc P/E: hệ số thu nhập trên 1 cổ phiếu so với giá trị thị trường (hoặc ngược lại) Hệ số CF/P: hệ số dòng tiền ròng trên giá trị thị trường của cổ phiếu Hệ số D/P: hệ số cổ tức trên giá 1 cổ phiếu. Theo đó việc phân loại các cổ phiếu giá trị và tăng trưởng được các nhà nghiên cứu xác định theo quy tắc sau: Cổ phiếu giá trị là những cổ phiếu có BM cao, E/P cao, CF/P cao, hoặc D P cao.
Ngược lại các cổ phiếu tăng trưởng là những cổ phiếu có BM thấp, E/P thấp, CF/P thấp hoặc D/P thấp. Nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng đồng thời nhiều chỉ tiêu trong nghiên cứu của mình để phân loại các danh mục cổ phiếu giá trị và cổ phiếu tăng trưởng. Kết quả thống kê một số nghiên cứu tiêu biểu được tổng hợp tóm tắt trong bảng sau: 10 Bảng 2.