Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản trị công ty và Quản trị rủi ro ngân hàng. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và QTRR của các NHTMCP Việt Nam Chương 3: Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và QTRR của các NHTMCP Việt Nam 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hệ thống ngân hàng đóng vai trò vô cùng đặc biệt trong hệ thống nền kinh tế. Vì vậy hoạt động quản trị công ty trong các lĩnh vực ngân hàng là rất quan trọng.
Đồng thời quản trị rủi ro luôn là hoạt động trung tam trong các tô chức tài chính - ngân hàng. Do đó việc nghiên cứu về quản trị công ty, quản trị rủi ro, đặc biệt là nghiên cứu mối quan hệ này đã ngày càng phổ biến trong những năm gần đây, tiêu biểu nhất là nghiên cứu của các nhóm tác giả dưới day: - Nghiên cứu của Joan Selorm Tsorhe, Anthony Q.Aboagye và Anthony Kyereboah-Coleman về QTCT và quản trị rủi ro ngân hàng ở Ghana. Nghiên cứu báo cáo tài chính của 23 ngân hàng giai đoạn 2005-2008. Nghiên cứu điều tra trạng thái của QTCT trong các ngành công nghiệp ngân hàng Ghana tác động ba biện pháp rủi ro ngân hàng ~ rủi ro vốn, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản như thế nào.
Chỉ s về tình trạng của QTCT là đại diện là số điểm của HĐQT dựa trên một chỉ số theo dõi sức mạnh của hội đồng quản trị (quy mô, tính độc lập, UBKT,.) Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để ước tính mối quan hệ giữa QTCT và rủi ro tài chính. Kết quả cho thấy sức mạnh của HĐQT không có tác động đáng kể đến rủi ro vốn, rủi ro tín dụng cũng như rủi ro thanh khoản. - Nghiên cứu của Tery MeNuly, Chris Florackis, Phillip Ormrod (2012) với đề tài “Quản trị công ty và rủi ro: Một nghiên cứu về cơ cấu Hội đồng Quản trị và quá trình”. Nghiên cứu được thiết kế dựa trên một tập hợp các dữ liệu định tính và định lượng của một mẫu lớn các công ty niêm yết của 'Vương quốc Anh.
Những dữ liệu này được thu thập thông qua một cuộc khảo sát của chủ tịch công ty, dữ liệu thứ cấp về hội đồng và rủi ro của các công ty và các cuộc phỏng vấn với giám đốc (cả hai giám đốc điều hành và không điều hành. Phân tích sử dụng các biến rủi ro chính có liên quan đến chấp nhận rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh. Nó kiểm tra xem ở mức độ công ty, liên quan đến cơ cầu HĐQT và quá trình, bao gồm các tính năng hành vi của HĐQT tác động đến rủi ro như thế nào. Cơ cấu của HĐQT được đo lường dựa vào việc sử dụng dữ liệu từ một cơ sở dữ liệu BoardEx (ví dụ như thành phần hội đồng quản trị, cơ cấu hội đồng quản trị, đặc Giám đốc).
Quá trình được đo lường dựa vào các chỉ tiêu như định mức nỗ lực hội đồng quản trị, hành vi ra quyết định và các mối quan hệ Giám đốc, dựa trên một cuộc khảo sát bảng câu hỏi về làm 5 việc và hiệu quả của HĐQT. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận đa phương pháp, nghiên cứu về cấu trúc và quá trình HĐQT thông qua phân tích định lượng (ví dụ hồi quy) và định tính (ví dụ như các cuộc phỏng vấn) đề làm sáng. tỏ các hoạt động bên trong của hội đồng và cách thức liên quan đến quản trị rủi ro. Một phần kết quả của nghiên cứu đã cho thấy một số khía cạnh của cấu trúc và quá trình HĐQT có ý nghĩa trong việc xác định mức độ rủi ro tài chính.
- _ Nghiên cứu của Bassem Salhi, Younes Boujelbene về mối quan hệ giữa cơ chế quản trị nội bộ và rủi ro ngân hàng trong bối cảnh Tunisia. Nghiên cứu sử dụng số liệu của 10 ngân hàng Tunisia niêm yết trên Sở Giao. dịch Chứng khoán của Tunis trong giai đoạn 2002 - 2009. Nhóm tác giả chú trọng vào tác động của cơ cầu sở hữu (tập trung quyền sở hữu, sự hiện diện của các nhà đầu tư tổ chức, sự hiện diện của cổ đông nước ngoài và sự tham gia của Nhà nước) và HĐQT (kích thước của HĐQT, Giám đốc tổ chức, giám đốc độc lập và tính hai mặt của lãnh đạo) đối với rủi ro ngân hàng.
việc xem xét tài liệu lý thuyết và thực nghiệm, tác giả đã xây dựng giả thuyết hoạt động sau khi đưa ra nền tảng lý thuyết của lĩnh vực quản trị rủi ro và ngân hàng. Đồng thời các tác giả sử dụng phân mềm Eviews 7, tiến hành kiểm tra các đặc điểm kỹ thuật của mô hình kinh tế. -_ Nghiên cứu của nhóm tác giả Eduardus Tandelilin và các cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa ba cấu trúc Quản trị công ty, quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu này cung cắp một cách tiếp cận mới để giải thích cơ chế QTCT được gọi là mô hình tam giác.
Mô hình này bao gồm ba cấu trúc, đó là quản trị công ty, quản trị rủi ro, và hiệu suất ngân hàng. Mô hình này cũng bao gồm các loại hình sở hữu ngân hàng và cơ cấu sở hữu như một yếu tố quyết định quan trọng của quản trị công ty. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng các ngân hàng thực hiện QTCT tốt có lợi thế cao hơn trong việc tăng hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro của ngân hàng. Những phát 6 hiện này cung cấp thông tin cho cô đông, có vai trò quan trọng để buộc quản lý của ngân hàng thực hiện QTCT tốt hơn.
Đồng thời kiểm soát các nhà quản lý để thực hiện tốt QTCT họ nên thiết lập cơ chế kiểm soát nhất định. Ngoài những nghiên cứu trực tiếp về mồi quan hệ giữa QTCT và QTRR, để tài còn tham khảo một số nghiên cứu riêng về QTCT và hiệu quả hoạt động ngân hàng để có cái nhìn tổng quát hơn như sau: -_ Christopher và Mo Fung Yung đã nghiên cứu mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả hoạt động ngân hàng của 76 ngân hàng tại HongKong. Nghiên cứu này đã tập trung vào cách các ngân hàng lựa chọn cấu trúc và chiến lược mà sẽ lần lượt ảnh hưởng đến hiệu quả của họ trong ngành công. nghiệp ngân hàng Hồng Kông.
Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng để kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị công ty, hoạt động ngân hàng, trong việc kiểm soát đối với một số yếu tố cụ thể công ty mà có thể ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng các ngân hàng có quy mô HĐQT lớn hơn và với một mức độ cho vay các bên liên quan thấp hơn có xu hướng hoạt động tốt. Nghiên cứu cũng cho thấy quy mô của các ngân hàng đang liên quan tích cực đến hiệu quả ngân hàng, chỉ ra rằng các ngân hàng lớn hơn có hiệu quả hoạt động tốt hơn. Tóm lại xem xét mối quan hệ giữa QTCT và QTRR đã có rất nhiều nghiên cứu.
Mỗi tác giả tiếp cận một khía cạnh khác nhau và cũng có những kết quả đánh giá tương đồng. Từ việc kế thừa và chọn lọc những nhân tố đặc trưng, phổ biến của các nghiên cứu đi trước, đề tài đã xây dựng mô hình. nghiên cứu riêng để xem xét mối tương quan giữa hai cấu trúc trên. 7 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI CONG TY VA QUAN TRI RUI RO NGAN HANG 1.
TONG QUAN VE QUAN TRI CONG TY 1. Khái niệm Quản trị công ty a. Định nghĩa về Quản trị công ty Quản trị công ty (QTCT) ngày càng thu hút sự chú ý của đông đảo công. chúng vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của doanh nghiệp và sự lành mạnh của xã hội nói chung.
Tuy nhiên, bản thân khái niệm QTCT lại được định nghĩa mờ nhạt và dễ nhằm lẫn, vì lý do cũng rất tự nhiên là QTCT bao trùm lên một số lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt. Kết cục là nhiều người khác nhau đã đi tới nhiều định nghĩa khác nhau về QTCT. Mỗi người cố gắng đưa ra một loại định nghĩa phản ánh mối quan tâm riêng của cá nhân về tác động và ảnh hưởng của QTCT trong lĩnh vực của mình. Theo Shleifer và Vishny (1997), "Quản trị công ty giải quyết vấn đề cách thức các nhà cung cấp tài chính cho doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của mình đề có thê thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình", Bộ Nguyên tắc của OECD (2004) định nghĩa quản trị công ty là hoạt động liên quan đến “một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng Quản trị, cô đông và các bên có quyền lợi liên quan khác.
Quản trị công ty cũng thiết lập cơ cấu qua đó các mục tiêu của công ty được xây dựng, phương tiện để đạt được các mục tiêu đó được xác định và hiệu quả thực hiện mục tiêu được giám sát. Quản trị công ty tốt cần tạo được sự khuyến khích đối với Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc để thực hiện các mục tiêu vì lợi ích công ty và cô đông, và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả. Sự tồn tại của hệ thống quản trị công ty hiệu quả trong phạm vi một công ty và trong cả nền kinh tế nói chung góp phần tạo nên sự tin tưởng là nền tảng cho sự vận hành của kinh tế thị trường”. Ở Việt Nam, định nghĩa của cụm từ “quản trị công ty” trong quy chế quản trị công ty do Bộ Tài chính ban hành như sau: “Quản trị công ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cỗ đông và những người liên quan đến công ty.
Cách hiểu khái niệm quản trị công ty như trên tương đối phù hợp với thông lệ quố: t nhất về quản trị công ty. Ở đây, cần lưu ý rằng quản trị công ty không chỉ liên quan đến cỗ đông mà còn chỉ phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến công ty. Vì vậy, các công ty (dù là niêm yết hay chưa. niêm yếU, khi xây dựng quy chế quản trị công ty (đôi khi, gọi là các nguyên tắc quản trị công ty), cần hết sức lưu ý đến những người liên quan đến công ty, bao gồm cổ đông, khách hàng, đối tác, chủ nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng Như vậy quan niệm và nội dung của QTCT ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau.