Phân tích mối quan hệ giữa quy mô và thành phần HĐQT với hiệu quả hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích mối quan hệ giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2013

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần

1.2. Khái niệm về ngân hàng thương mại cổ phần

1.3. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần

1.4. Quản trị ngân hàng thương mại cổ phần

1.5. Khái quát về Hội đồng quản trị

1.6. Khái niệm Hội đồng quản trị

1.7. Quy mô Hội đồng quản trị

1.8. Thành phần Hội đồng quản trị

1.9. Thành viên HĐQT điều hành (inside directors)

1.10. Thành viên HĐQT không điều hành

1.11. Thành viên HĐQT độc lập (outside/independent directors)

1.12. Cơ cấu thành phần Hội đồng quản trị

1.13. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị

1.14. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

1.15. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP

1.16. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

1.17. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)

1.18. Mối quan hệ giữa ROE và ROA

1.19. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP

1.19.1. Các nhân tố chủ quan

1.19.2. Các nhân tố khách quan

1.20. Mối quan hệ giữa HĐQT và hiệu quả hoạt động

1.21. Mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động

1.22. Mối quan hệ giữa thành phần HĐQT và hiệu quả hoạt động

1.23. Vai trò của thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động

1.24. Vai trò của thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động

1.25. Các công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa quy mô, thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động

1.25.1. Quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động

1.25.2. Thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động

1.25.3. Thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động

1.25.4. Thành viên điều hành và hiệu quả hoạt động

1.26. Bài học kinh nghiệm cho các NHTMCP Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTMCP VIỆT NAM

2.1. Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam

2.2. Vai trò của Hội đồng quản trị tại các NHTMCP Việt Nam

2.2.1. Tác động tích cực

2.2.2. Tác động tiêu cực

2.3. Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam

2.3.1. Về quy mô vốn điều lệ

2.3.2. Khả năng sinh lời

2.3.3. Về tăng trưởng tín dụng

2.3.4. Về hệ số an toàn vốn (CAR)

2.3.5. Đa dạng hoá sản phẩm kinh doanh

2.4. Những thuận lợi

2.4.1. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

2.4.2. Môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện

2.5. Những thách thức đặt ra đối với hệ thống NHTM Việt Nam

2.5.1. Tình trạng sở hữu chéo

2.5.2. Tỷ lệ nợ xấu

2.5.3. Rủi ro thanh khoản

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP LUẬN, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp luận

3.2. Xây dựng mô hình nghiên cứu

3.3. Mô tả các biến trong mô hình

3.3.1. Biến phụ thuộc

3.3.2. Biến độc lập

3.3.3. Biến kiểm soát

3.4. Thiết lập mô hình nghiên cứu

3.4.1. Mô hình ước lượng OLS cho dữ liệu gộp

3.4.2. Mô hình hồi qui với các tác động cố định

3.5. Dữ liệu nghiên cứu

3.6. Phương pháp xử lý số liệu

3.7. Kết quả nghiên cứu

3.7.1. Mô hình hồi qui tuyến tính thông thường cho dữ liệu gộp (pooled OLS)

3.7.2. Thống kê mô tả các biến độc lập, biến phụ thuộc và các biến kiểm soát

3.7.3. Hệ số tương quan Pearson

3.7.4. Kết quả hồi qui cho mô hình dữ liệu gộp

3.7.5. Mô hình hồi qui với các tác động cố định (fixed effects-FE)

3.7.6. Thống kê mô tả

3.7.7. Kết quả hồi qui với các tác động cố định

3.7.8. Lý giải kết quả nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

4.1. Một số kiến nghị đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

4.2. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản trị điều hành

4.3. Một số kiến nghị nâng cao năng lực tài chính

4.4. Một số kiến nghị nâng cao năng lực quản trị nội bộ

4.4.1. Đối với Chính phủ

4.4.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH KẾT QUẢ XẾP HẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA 27 NHTMCP LẤY MẪU

PHỤ LỤC 2: VỐN ĐIỀU LỆ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2006-2012

PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU THU THẬP CỦA 27 NHTMCP GIAI ĐOẠN 2004-2012

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Mối quan hệ giữa quy mô HĐQThiệu quả ngân hàng là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu quản trị ngân hàng. Nghiên cứu này nhằm làm rõ cách mà quy mô của Hội đồng quản trị (HĐQT) ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam. Các yếu tố như số lượng thành viên, cấu trúc HĐQT và vai trò của các thành viên độc lập sẽ được phân tích để hiểu rõ hơn về tác động của chúng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng.

1.1. Khái niệm về quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Quy mô HĐQT được định nghĩa là số lượng thành viên trong Hội đồng quản trị của một ngân hàng. Hiệu quả ngân hàng thường được đo bằng các chỉ số như tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Nghiên cứu cho thấy rằng quy mô HĐQT có thể ảnh hưởng đến khả năng ra quyết định và quản lý rủi ro của ngân hàng.

1.2. Tầm quan trọng của quy mô HĐQT trong quản trị ngân hàng

Quy mô HĐQT có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự đa dạng trong quan điểm và kinh nghiệm của các thành viên. Một HĐQT lớn hơn có thể mang lại nhiều ý tưởng và giải pháp hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, nếu quy mô quá lớn, có thể dẫn đến sự thiếu hiệu quả trong việc ra quyết định.

II. Vấn đề và thách thức trong mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Mặc dù có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô HĐQT có thể ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả ngân hàng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc xác định mối quan hệ này. Các vấn đề như sự thiếu đồng nhất trong cấu trúc HĐQT, sự tham gia của các thành viên độc lập và khả năng quản lý rủi ro là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Những thách thức trong việc xác định quy mô HĐQT

Một trong những thách thức lớn nhất là việc xác định số lượng thành viên tối ưu cho HĐQT. Nghiên cứu cho thấy rằng không có một quy chuẩn chung nào cho quy mô HĐQT, và điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng.

2.2. Tác động của thành phần HĐQT đến hiệu quả ngân hàng

Thành phần của HĐQT, bao gồm tỷ lệ thành viên độc lập và thành viên điều hành, cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng. Các thành viên độc lập thường mang lại cái nhìn khách quan và giúp giảm thiểu rủi ro trong quản trị, trong khi các thành viên điều hành có thể cung cấp thông tin chi tiết về hoạt động hàng ngày của ngân hàng.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Để nghiên cứu mối quan hệ này, các phương pháp định tính và định lượng sẽ được áp dụng. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa quy mô HĐQT và các chỉ số hiệu quả ngân hàng như ROE và ROA. Dữ liệu sẽ được thu thập từ các báo cáo tài chính của các NHTMCP trong giai đoạn từ 2004 đến 2012.

3.1. Phương pháp định lượng trong nghiên cứu

Phương pháp định lượng sẽ bao gồm việc sử dụng mô hình hồi quy để phân tích mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng. Các biến độc lập sẽ bao gồm số lượng thành viên HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập và tỷ lệ thành viên điều hành.

3.2. Phân tích định tính về quy mô HĐQT

Phân tích định tính sẽ tập trung vào việc đánh giá cấu trúc và vai trò của HĐQT trong các ngân hàng. Điều này bao gồm việc xem xét cách mà các thành viên HĐQT tương tác và ra quyết định, cũng như cách mà họ quản lý rủi ro và đảm bảo hiệu quả hoạt động.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu về quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn quản trị ngân hàng. Các ngân hàng có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để điều chỉnh quy mô và cấu trúc HĐQT nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc tối ưu hóa quy mô HĐQT có thể giúp ngân hàng cải thiện khả năng ra quyết định và quản lý rủi ro.

4.1. Khuyến nghị cho các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng nên xem xét lại quy mô HĐQT của mình để đảm bảo rằng nó phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của tổ chức. Việc tăng cường sự tham gia của các thành viên độc lập cũng có thể giúp nâng cao hiệu quả quản trị.

4.2. Tác động đến chính sách quản trị ngân hàng

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách quản trị ngân hàng hiệu quả hơn. Các ngân hàng cần chú trọng đến việc đào tạo và phát triển năng lực cho các thành viên HĐQT để đảm bảo họ có thể thực hiện tốt vai trò của mình.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao gồm các yếu tố khác như văn hóa tổ chức và môi trường kinh doanh. Điều này sẽ giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về cách mà quy mô HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng.

5.1. Tương lai của nghiên cứu về quy mô HĐQT

Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc xác định các yếu tố khác ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả ngân hàng, chẳng hạn như sự thay đổi trong môi trường kinh doanh và các quy định pháp lý.

5.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên xem xét các ngân hàng ở các quốc gia khác nhau để so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm. Việc này sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò của quy mô HĐQT trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích mối quan hệ giữa quy mô thành phần hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại cổ phần Ngân hàng thương mại đã hình thành t ồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác đ ộng rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng đư ợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.

Có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại: - Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. - Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã đ ịnh nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. - Theo điều 4 của Luật các tổ chức tín dụng 2010, ngày 16/06/2010, Quốc Hội nước Việt Nam khóa XII, có hiệu lực vào ngày 01/01/2011 “NHTM là loại hình ngân hàng đư ợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các TCTD nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.

Theo đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần là một ngân hàng thương mại phát hành cổ phiếu và yêu cầu các cổ đông nắm giữ cổ phần phải chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty. Các cổ đông chính là các nhà đầu tư, họ có thể các công ty tư nhân ở nước ngoài, chính phủ, hoặc cá nhân. Quyền sở hữu thường có được thông qua việc mua cổ phiếu ngân hàng hoặc vốn chủ sở hữu. Mỗi nhà đầu tư sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhất định của vốn chủ sở hữu tổng thể của ngân hàng, đó là một số lượng đủ lớn để có được quyền biểu quyết đáng kể và ảnh hưởng đến các chính sách chiến lược của tổ chức tài chính.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam là Ngân hàng Thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty Cổ phần, có số vốn thuộc sở hữu chung của cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phần, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Cổ đông của ngân hàng bao gồm cá nhân và pháp nhân, tuy nhiên các cổ đông chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Vốn cổ phần là vốn dài hạn, cổ đông chỉ được quyền chuyển nhượng mà không có quyền đòi rút vốn. Trong trường hợp kinh doanh gặp khó khăn và không thể tồn tại được thì cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn số vốn mà họ đã đóng góp đ ối với công nợ của ngân hàng.

Cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại cổ phần Cơ cấu tổ chức của các NHTMCP được thực hiện như sau: Cơ quan quyền lực cao nhất là Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra cơ quan đại diện thường trực cho mình là Hội đồng quản trị, và Hội đồng quản trị với tư cách là đại diện chủ sở hữu sẽ chỉ định Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám đốc) để điều hành hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Để đảm bảo giám sát hoạt động của Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông lại bầu ra Ban Kiểm soát. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản trị ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP là một doanh nghiệp đặc thù được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần.

Vì vậy, về cơ bản việc quản trị ngân hàng cũng tương tự như quản trị công ty. Có nhiều khái niệm khác nhau về quản trị công ty, cụ thể như sau: - Theo Jenkinson & Mayer (1992), quản trị công ty đề cập đến các quy trình và cấu trúc mà theo đó các công việc của các tổ chức trong công ty được chỉ đạo và quản lý nhằm nâng cao giá trị cổ phiếu nắm giữ dài hạn bằng cách tăng cường hoạt động và trách nhiệm đối với công ty, trong đó có tính đến lợi ích của các bên liên quan khác. Do đó, quản trị công ty là xây dựng uy tín, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cũng như duy trì m ột kênh hiệu quả của việc tiết lộ thông tin sẽ thúc đẩy hoạt động doanh nghiệp tốt. - Theo quyết định 12/2007/QĐ-BTC thì “Quản trị công ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty.

Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm: + Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; + Đảm bảo quyền lợi của cổ đông ; + Đối xử công bằng giữa các cổ đông; + Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; + Minh bạch trong hoạt động của công ty; + Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đ ạo và kiểm soát công ty có hiệu quả. Các khái niệm trên nhìn chung đ ều cho rằng: quản trị công ty nói chung hay quản trị ngân hàng thương mại cổ phần nói riêng là một hệ thống, thông qua đó các hoạt động kinh doanh của ngân hàng được hoạch định, tổ chức, điều hành, phối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hợp và kiểm soát bởi các nhà quản lý và điều hành (HĐQT, Ban giám đốc) nhằm đáp ứng quyền lợi của cổ đông và các bên có liên quan. Tuy nhiên như đã đ ề cập, do các ngân hàng thương mại cổ phần với đặc thù là tổ chức kinh doanh “tiền” trong hoạt động kinh doanh gặp nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp phi tài chính. Do đó, vai trò của quản trị ngân hàng càng trở nên quan trọng hơn vì với việc quản trị tốt hơn, đồng nghĩa với việc Hội đồng quản trị thực hiện tốt vai trò giám sát của mình sẽ làm cho các thông tin về tài chính của ngân hàng được minh bạch hơn.

Từ đó, ngân hàng có thể đánh giá đúng chất lượng hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, mang lại giá trị cao hơn, đảm bảo lợi ích cho các cổ đông và tránh nguy cơ phá sản, đỗ vỡ hệ thống. Khái quát về Hội đồng quản trị 1. Khái niệm Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là một nhóm các cá nhân được bầu làm đại diện của các cổ đông để thiết lập các chính sách liên quan đến quản lý công ty và đưa ra quyết định về các vấn đề lớn của công ty. Các vấn đề như vậy bao gồm việc thuê / sa thải giám đốc điều hành, chính sách cổ tức, chính sách lựa chọn và điều hành bồi thường.

Mỗi công ty đại chúng phải có một hội đồng quản trị. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị có toàn quyền nhân danh tổ chức tín dụng để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu”. Hội đồng quản trị do đại hội cổ đông bầu ra thường là những cổ đông có vốn góp lớn trong ngân hàng, gồm những người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết về hoạt động ngân hàng. Hội đồng quản trị có chức năng quản trị ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật, là đại diện cho quyền lợi của các cổ đông và bổ nhiệm các chức danh quản lý cao nhất trong ngân hàng, đồng thời có nhiệm vụ đảm bảo các hoạt động của các nhà quản lý luôn tuân theo đúng mục tiêu tối đa hóa giá trị lợi ích của các chủ sở hữu.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Một trong số thành viên Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức danh quản lý cao nhất là Tổng giám đốc hoặc các Phó tổng giám đốc. Chủ tịch HĐQT không được đồng thời là Tổng giám đốc (Giám đốc) hoặc các Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc), trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Chủ tịch của NHTMCP này không được phép tham gia hoặc tham gia điều hành NHTMCP khác. Chủ tịch và các thành viên khác trong Hội đồng quản trị không được ủy quyền cho những người không phải là thành viên Hội đồng quản trị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Như vậy, Hội đồng quản trị không phải là người trực tiếp điều hành và quản lý hoạt động hàng ngày của ngân hàng mà uỷ quyền cho những người có năng lực quản lý để thay mặt mình thực thi nhiệm vụ, đó chính là Ban giám đốc được chỉ định có nghĩa vụ về mặt đạo đức là làm sao mang đến lợi nhuận cao nhất cho các cổ đông. Quy mô Hội đồng quản trị Theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần phải có không ít hơn 05 thành viên và không quá 11 thành viên, trong đó có ít nhất 01 thành viên độc lập. Hội đồng quản trị phải có ít nhất một phần hai tổng số thành viên là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành tổ chức tín dụng.” Bên cạnh đó, các ngân hàng khi niêm yết phải tuân thủ theo Thông tư 121 như sau:“Công ty đại chúng quy mô lớn và công ty niêm yết phải có ít nhất là năm (05) thành viên Hội đồng quản trị và tối đa mười một (11) thành viên Hội đồng quản trị.” Như vậy, quy định về quy mô Hội đồng quản trị là như nhau, tùy thuộc vào tính chất và quy mô hoạt động, giai đoạn phát triển, sự đa dạng của hoạt động kinh doanh cũng như nhu cầu kinh phí mà mỗi ngân hàng trên mỗi thời kỳ xác định quy mô cho phù hợp để duy trì sự phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ