Tổng quan nghiên cứu

Dầu mỏ giữ vai trò là nguồn năng lượng huyết mạch hàng đầu, chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng toàn cầu liên tục từ năm 1992 đến năm 2017 theo báo cáo năng lượng thế giới của Tập đoàn BP. Trong giai đoạn 2008 đến 2018, giá dầu thô thế giới trải qua những chu kỳ biến động khốc liệt, đạt đỉnh trên 100 USD một thùng trước năm 2014 rồi sụt giảm sâu xuống dưới ngưỡng 30 USD một thùng vào đầu năm 2016 trước khi phục hồi trở lại. Sự biến động mạnh mẽ của giá dầu không chỉ tác động sâu sắc đến tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ lạm phát, cán cân vãng lai mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự dao động của tỷ giá hối đoái.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là các phương pháp kinh tế lượng truyền thống thường chỉ đo lường mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá theo hai mốc ngắn hạn và dài hạn cố định, đồng thời vướng phải rào cản kiểm định nghiệm đơn vị (unit root) khi xử lý các chuỗi thời gian tài chính không dừng. Nhằm giải quyết triệt để điểm nghẽn này, công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Diệp Tú tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã thực hiện kiểm định sự dịch chuyển cùng chiều và mức độ tương quan động giữa giá dầu thô WTI và tỷ giá hối đoái tại 6 quốc gia Đông Nam Á gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore và Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu bao quát mẫu dữ liệu chuỗi thời gian hàng ngày với 2.413 quan sát từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 08 năm 2018. Thông qua cách tiếp cận phân tích xu hướng tương quan từng phần (DCCA), nghiên cứu xác định chính xác chiều hướng, độ mạnh yếu của tương quan trên từng thang đo thời gian liên tục từ 3 đến 200 ngày. Luận văn đóng góp cơ sở dữ liệu định lượng giá trị, giúp các nhà hoạch định chính sách tiền tệ và các định chế tài chính nâng cao hiệu quả dự báo rủi ro tỷ giá trước các cú sốc năng lượng toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng trên nền tảng lý thuyết truyền dẫn cung cầu tiền tệ và hàng hóa quốc tế. Khi giá dầu biến động, cơ chế truyền dẫn tác động lên tỷ giá hối đoái thông qua hai kênh chính:

Thứ nhất là kênh cung cầu ngoại tệ, khi giá dầu tăng, các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ gia tăng nhu cầu nắm giữ đồng USD để thanh toán, đẩy giá trị đồng USD tăng lên trong ngắn hạn. Ngược lại, tại các quốc gia xuất khẩu dầu, dòng thu ngoại tệ gia tăng làm tăng cung USD, tạo áp lực giảm giá đồng USD so với nội tệ. Tùy thuộc vào khả năng hấp thụ và tái nhập khẩu hàng hóa của nước xuất khẩu, xu hướng tỷ giá sẽ diễn biến linh hoạt.

Thứ hai là kênh chi phí sản xuất và sức mua, theo nghiên cứu của Coudert và cộng sự năm 2007 cùng Shahbaz và cộng sự năm 2015, giá dầu tác động trực tiếp đến chi phí khu vực hàng hóa phi thương mại và mức thu nhập khả dụng sau thuế. Sự thay đổi trong chi tiêu tiêu dùng và chi phí biên sẽ tác động ngược trở lại tỷ giá thực hiệu lực đa phương.

Nghiên cứu vận dụng 3 khái niệm học thuật trọng tâm:

  • Khái niệm sự dịch chuyển cùng chiều (Co-movement) giữa các tài sản tài chính.
  • Khái niệm tính tự đồng dạng (Self-affinity) và cấu trúc biến thiên phi tuyến của chuỗi thời gian.
  • Hệ số tương quan xu hướng DCCA ($\rho_{DCCA}$) với giá trị chuẩn hóa dao động trong khoảng từ -1 đến +1, biểu thị từ tương quan ngược chiều tuyệt đối đến cùng chiều tuyệt đối.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1 thu thập dữ liệu thứ cấp gồm 2.413 quan sát hàng ngày cho mỗi quốc gia trong khung thời gian 01/2009 đến 08/2018. Dữ liệu tỷ giá danh nghĩa so với đồng USD của 6 đồng tiền IDR, MYR, PHP, THB, SGD, VND được trích xuất từ Investing.com, kết hợp dữ liệu giá dầu thô WTI giao ngay từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ dữ liệu giao dịch sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 giúp loại trừ các biến động dị biệt cực đoan, đảm bảo tính đại diện và kích thước mẫu đủ lớn cho phân tích thống kê.

Giai đoạn 2 thực hiện kiểm định quan hệ nhân quả Granger trên phần mềm EViews 8.0 với độ trễ 2 cho các nước và thử nghiệm thêm độ trễ 4 cho Việt Nam nhằm xác định hướng tác động tuyến tính tổng thể.

Giai đoạn 3 ứng dụng phương pháp DCCA (Detrended Cross-Correlation Analysis) dựa trên thuật toán DFA của Peng năm 1994 và mở rộng bởi Zebende năm 2011, được lập trình tối ưu trên ngôn ngữ R và Python. Lý do lựa chọn DCCA là vì phương pháp này loại bỏ hoàn toàn yêu cầu khắt khe về bậc dừng của chuỗi dữ liệu, tránh được sai lệch do lựa chọn sai bậc đồng liên kết trong các mô hình VAR hay VECM truyền thống, đồng thời cho phép tính toán hệ số tương quan $\rho_{DCCA}$ chi tiết trên từng khoảng thời gian quan sát từ 3 đến 200 ngày.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả thực nghiệm từ mô hình kiểm định nhân quả Granger và phân tích DCCA trên 2.413 quan sát mang lại các phát hiện cốt lõi sau:

Thứ nhất, kiểm định nhân quả Granger độ trễ 2 xác nhận tồn tại mối quan hệ tác động hai chiều giữa giá dầu và tỷ giá tại Indonesia với mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1% đối với chiều giá dầu tác động đến tỷ giá và 5% đối với chiều tỷ giá tác động đến giá dầu.

Thứ hai, mối quan hệ tác động một chiều từ giá dầu sang tỷ giá hối đoái với mức ý nghĩa thống kê cao 1% được ghi nhận tại Malaysia, Philippines và Singapore. Ngược lại, kiểm định Granger không tìm thấy mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa thống kê giữa giá dầu và tỷ giá tại Thái Lan và Việt Nam khi các giá trị p-value đều vượt quá mức 10%.

Thứ ba, phân tích DCCA chỉ ra hệ số tương quan $\rho_{DCCA}$ giữa giá dầu và tỷ giá mang giá trị âm yếu ở thang đo ngắn hạn từ 3 đến 20 ngày tại Indonesia, Malaysia và Singapore, sau đó chuyển dần sang mức tương quan âm trung bình khi mở rộng quy mô thời gian lên đến 200 ngày với hệ số nằm trong khoảng -0,333 đến -0,500. Đối với Philippines và Thái Lan, hệ số tương quan duy trì trạng thái âm yếu ổn định trong suốt các thang đo thời gian.

Thứ tư, thị trường Việt Nam ghi nhận một đặc tính đảo chiều độc đáo: hệ số $\rho_{DCCA}$ mang giá trị âm yếu ở khoảng thời gian quan sát từ 3 đến 20 ngày với giá trị xấp xỉ -0,05, nhưng từ sau mốc 20 ngày trở đi, hệ số này chuyển hẳn sang giá trị dương và đạt mức cao nhất gần 0,20 trong trung và dài hạn.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt rõ nét giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực xuất phát từ cơ chế điều hành tỷ giá và cơ cấu thương mại dầu khí đặc thù:

Tại các nước như Malaysia, Singapore, Indonesia hay Philippines, giá dầu và tỷ giá vận động ngược chiều theo đúng lý thuyết kinh tế truyền thống. Khi giá dầu tăng, các nền kinh tế đối mặt với chi phí nhập khẩu tăng hoặc áp lực điều chỉnh cung tiền, khiến tỷ giá có xu hướng giảm giá trị so với đồng USD ở quy mô dài hạn.

Tại Việt Nam, cơ chế điều hành tỷ giá là cơ chế tỷ giá trung tâm neo có điều chỉnh theo công bố của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Trong ngắn hạn dưới 20 ngày, khi giá dầu WTI tăng, nguồn thu ngoại tệ USD từ hoạt động xuất khẩu dầu thô của Việt Nam gia tăng nhanh chóng, làm giảm áp lực cầu USD trên thị trường liên ngân hàng, dẫn đến tương quan âm nhẹ.

Tuy nhiên, về bản chất tiêu thụ năng lượng, Việt Nam là quốc gia nhập siêu các chế phẩm xăng dầu tinh chế. Theo số liệu thống kê năm 2014, năng lực sản xuất nội địa mới chỉ đáp ứng được khoảng 33% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước. Khi giá dầu thế giới tăng kéo dài trên 20 ngày, chi phí nhập khẩu xăng dầu tăng vọt, buộc cơ quan quản lý phải điều chỉnh tăng tỷ giá USD/VND nhằm bảo vệ quỹ dự trữ ngoại hối và điều tiết nhu cầu nhập khẩu.

Toàn bộ diễn biến này có thể được tổng hợp trực quan qua đồ thị hệ số $\rho_{DCCA}$ đa trục, trong đó trục tung biểu thị thang đo hệ số từ -1 đến +1 và trục hoành biểu thị bước nhảy thời gian từ 3 đến 200 ngày, kết hợp bảng ma trận p-value của kiểm định Granger để minh họa rõ tính phi tuyến của dữ liệu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ động xây dựng cơ chế phản ứng linh hoạt theo chu kỳ 20 ngày đối với tỷ giá trung tâm. Khi giá dầu thô thế giới biến động mạnh trên 10% trong vòng 1 tháng, cơ quan điều hành nên tận dụng khoảng thời gian đệm 20 ngày đầu để hấp thu nguồn ngoại tệ xuất khẩu dầu thô, sau đó từng bước điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa trong biên độ từ 1% đến 2% nhằm kiểm soát kỳ vọng lạm phát nhập khẩu trong chu kỳ 3 đến 6 tháng tiếp theo.

Thứ hai, các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu và hóa chất cần chủ động thiết lập chiến lược phòng ngừa rủi ro tỷ giá (Hedging) thông qua hợp đồng kỳ hạn (Forward) và hợp đồng quyền chọn (Options). Doanh nghiệp nên thực hiện chốt hợp đồng mua kỳ hạn USD với thời gian đáo hạn từ 30 đến 60 ngày ngay khi giá dầu thô WTI có tín hiệu tăng tốc, nhằm cố định chi phí đầu vào và giảm thiểu rủi ro tỷ giá biến động sau ngưỡng 20 ngày.

Thứ ba, Bộ Công Thương phối hợp với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia thúc đẩy lộ trình nâng cao tỷ lệ tự chủ nguồn cung xăng dầu trong nước từ mức 33% giai đoạn 2014 lên mức tối thiểu 70% đến 80% trong tầm nhìn 5 năm. Việc gia tăng công suất chế biến của các nhà máy lọc dầu nội địa sẽ giúp giảm bớt áp lực nhu cầu thanh toán USD cho nhập khẩu năng lượng, giảm độ nhạy cảm của tỷ giá trước các cú sốc dầu mỏ.

Thứ tư, các nhà đầu tư tổ chức và nhà quản lý danh mục tài chính nên áp dụng chiến lược đa dạng hóa tài sản đa quốc gia. Việc phân bổ vốn vào các tài sản định danh bằng đồng SGD, MYR kết hợp các vị thế hàng hóa dầu thô trong thời gian nắm giữ từ 90 đến 180 ngày sẽ tạo ra cơ chế phòng vệ tương quan âm tự nhiên, giúp giảm thiểu độ biến động tổng thể của danh mục đầu tư xuống từ 15% đến 20%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Nhóm 1 gồm các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Công Thương. Luận văn cung cấp công cụ định lượng DCCA giúp các chuyên viên phân tích theo dõi chính xác độ trễ tác động của giá dầu đến tỷ giá theo từng thang đo 3 đến 200 ngày, từ đó nâng cao chất lượng dự báo cán cân thanh toán quốc tế và xây dựng kịch bản điều hành tỷ giá chủ động.

Nhóm 2 gồm các Giám đốc Tài chính (CFO), Trưởng phòng Nguồn vốn và Quản lý rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu năng lượng, vận tải biển, sản xuất phân bón. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận diện mốc đảo chiều 20 ngày của tỷ giá USD/VND để lập kế hoạch giải ngân ngoại tệ tối ưu, tiết kiệm từ 3% đến 5% chi phí rủi ro chênh lệch tỷ giá hàng năm.

Nhóm 3 gồm các chuyên viên phân tích kinh tế vĩ mô và nhà quản lý quỹ đầu tư tại các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư mạo hiểm. Dữ liệu tương quan động giữa 6 đồng tiền ASEAN và giá dầu WTI là cơ sở khoa học để thiết lập các mô hình kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage) và chiến lược phòng hộ rủi ro danh mục tài sản chéo.

Nhóm 4 gồm các giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế và Kinh tế lượng ứng dụng. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp xử lý dữ liệu chuỗi thời gian không dừng bằng thuật toán DCCA trên ngôn ngữ R và Python.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp phân tích DCCA có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình kinh tế lượng truyền thống?

Phương pháp DCCA giải quyết triệt để vấn đề dữ liệu chuỗi thời gian không dừng có nghiệm đơn vị mà không cần lấy sai phân bậc một làm mất thông tin dài hạn. Đồng thời, DCCA đo lường được hệ số tương quan $\rho_{DCCA}$ chi tiết trên từng khoảng thời gian quan sát từ 3 đến 200 ngày, thay vì chỉ ước lượng tĩnh hai trạng thái ngắn hạn và dài hạn như VAR hay VECM.

Tại sao mối quan hệ giữa giá dầu và tỷ giá tại Việt Nam lại đảo chiều sau 20 ngày?

Trong 20 ngày đầu, nguồn thu USD từ xuất khẩu dầu thô tăng giúp giảm căng thẳng ngoại tệ, tạo tương quan âm nhẹ. Nhưng do Việt Nam nhập siêu xăng dầu tinh chế với mức đáp ứng nội địa năm 2014 chỉ đạt 33%, việc giá dầu tăng dài hạn buộc nhà nước phải điều chỉnh tăng tỷ giá USD/VND sau 20 ngày để cân đối nhu cầu ngoại tệ nhập khẩu.

Kiểm định Granger cho thấy mối liên hệ như thế nào giữa giá dầu WTI và tỷ giá tại Indonesia?

Kiểm định Granger với độ trễ 2 trên 2.411 bậc tự do cho thấy tồn tại quan hệ nhân quả hai chiều có ý nghĩa thống kê giữa giá dầu và tỷ giá Rupiah Indonesia (IDR). Cụ thể, giá dầu tác động đến tỷ giá ở mức ý nghĩa 1% và tỷ giá tác động ngược lại giá dầu ở mức ý nghĩa 5%.

Doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu nên vận dụng phát hiện của luận văn vào quản trị tài chính như thế nào?

Doanh nghiệp nhập khẩu nên thực hiện mua hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn USD ngay trong vòng 20 ngày đầu khi giá dầu thô WTI bắt đầu bước vào chu kỳ tăng giá. Việc chốt trước tỷ giá kỳ hạn 30 đến 60 ngày giúp doanh nghiệp tránh được đợt tăng tỷ giá USD/VND khi thị trường bước sang pha tương quan dương sau ngày thứ 20.

Cỡ mẫu 2.413 quan sát trong giai đoạn 2009 đến 2018 có bảo đảm độ tin cậy thống kê cho nghiên cứu không?

Cỡ mẫu 2.413 quan sát hàng ngày là quy mô mẫu rất lớn trong kinh tế lượng chuỗi thời gian. Dữ liệu được thu thập nhất quán từ tháng 01/2009 đến tháng 08/2018 ngay sau khủng hoảng tài chính 2008, giúp loại bỏ các cú sốc gãy cấu trúc bất thường và đảm bảo độ vững chắc cho các ước lượng thống kê.

Kết luận

  • Công trình xác lập bức tranh định lượng toàn diện về sự dịch chuyển cùng chiều giữa giá dầu thô WTI và tỷ giá danh nghĩa tại 6 quốc gia Đông Nam Á thông qua 2.413 quan sát hàng ngày giai đoạn 2009 đến 2018.
  • Khẳng định tính ưu việt của phương pháp DCCA trong việc khắc phục hiện tượng dữ liệu không dừng và đo lường tương quan đa quy mô từ 3 đến 200 ngày một cách chính xác.
  • Nhận diện quan hệ nhân quả hai chiều tại Indonesia và quan hệ nhân quả một chiều từ giá dầu đến tỷ giá tại Malaysia, Philippines, Singapore ở mức ý nghĩa 1%.
  • Phát hiện quy luật biến động đặc thù tại Việt Nam với tương quan âm ở chu kỳ ngắn dưới 20 ngày và chuyển dịch sang tương quan dương trong trung - dài hạn do cơ cấu nhập siêu thành phẩm xăng dầu.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp định lượng với mốc thời gian 20 ngày then chốt cho Ngân hàng Nhà nước trong điều hành tỷ giá và cho các doanh nghiệp trong phòng ngừa rủi ro ngoại hối.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đặt nền móng ứng dụng mô hình DCCA vào nghiên cứu thị trường ngoại hối Việt Nam. Trong lộ trình nghiên cứu tiếp theo từ 12 đến 24 tháng, các tác giả nên tiếp tục mở rộng mô hình sang các rổ ngoại tệ đa phương và tích hợp biến số bất định kinh tế toàn cầu để hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tài chính. Hãy tham khảo và ứng dụng ngay phương pháp DCCA để nâng cao độ chuẩn xác trong các phân tích tài chính vĩ mô chuyên sâu.