Tiểu luận báo cáo công trình nghiên cứu khoa học sinh viên đề tài mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

Tiểu luận phân tích mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo công trình nghiên cứu khoa học sinh viên

2016

60
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán tại các công ty niêm yết ở Việt Nam. Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tế rằng ban giám đốc thường điều chỉnh lợi nhuận để đạt được các mục tiêu tài chính, từ đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng ý kiến kiểm toán có thể phản ánh sự trung thực của các thông tin tài chính. Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ. Do đó, nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán trong bối cảnh các công ty niêm yết tại Việt Nam.

II. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Chương này trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán. Theo Schipper (1989), điều chỉnh lợi nhuận là sự can thiệp có tính toán trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được các mục đích cá nhân. Hành vi này có thể được phân loại thành ba nhóm: điều chỉnh lợi nhuận trắng, điều chỉnh lợi nhuận xám, và điều chỉnh lợi nhuận đen. Mỗi loại có những đặc điểm và động cơ khác nhau. Bên cạnh đó, ý kiến kiểm toán cũng được định nghĩa là đánh giá của kiểm toán viên về tính trung thực của các báo cáo tài chính. Sự tương tác giữa hai yếu tố này có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và sự tin tưởng của nhà đầu tư vào các công ty niêm yết.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để phân tích mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toánđiều chỉnh lợi nhuận. Mẫu nghiên cứu bao gồm 92 công ty niêm yết nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần trong năm 2014. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán và phân tích bằng phần mềm SPSS. Mô hình hồi quy được sử dụng để kiểm định giả thuyết về mối quan hệ giữa hai biến. Phương pháp này giúp xác định liệu có sự tương quan giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán hay không, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các bên liên quan.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả phân tích cho thấy có sự tương quan giữa điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán. Các công ty có hành vi điều chỉnh lợi nhuận thường nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần cao hơn. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của kiểm toán viên trong việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi gian lận tài chính. Kết quả này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính, từ đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố khác như quy mô công ty và ngành nghề cũng có ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán.

V. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuậný kiến kiểm toán là một vấn đề quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Các công ty cần chú trọng đến việc duy trì tính minh bạch trong báo cáo tài chính để tránh rủi ro bị phát hiện gian lận. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực của kiểm toán viên là cần thiết để đảm bảo tính chính xác của các báo cáo tài chính. Các nhà đầu tư cũng cần có cái nhìn thận trọng hơn khi đánh giá các công ty niêm yết, đặc biệt là những công ty có dấu hiệu điều chỉnh lợi nhuận.

01/02/2025
Tiểu luận báo cáo công trình nghiên cứu khoa học sinh viên đề tài mối quan hệ giữa hành vi điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trên thực tế, ban giám đốc thường được trả lương thưởng theo lợi nhuận của công ty, do đó họ thường có xu hướng dùng các thủ thuật để điều chỉnh lợi nhuận đạt mức mong muốn. Bên cạnh đó, một trong những yếu tố mà thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư đó là chỉ tiêu lợi nhuận. Từ chỉ tiêu lợi này, nhà đầu tư có thể đánh giá được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, triển vọng tăng trưởng của công ty trong tương lai.

Nhà đầu tư thường có xu hướng đầu tư vào công ty lợi nhuận cao hơn là những công ty có lợi nhuận thấp (Ambrose Jagongo, 2014). Houck (2003) các công ty niêm yết thường có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận để tạo ra kết quả kinh doanh hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư và các thông tin trên BCTC có thể tác động tới giá cổ phiếu của công ty. Bên cạnh đó một công ty tư nhân cũng có thể “xào nấu” sổ sách (cooking the book) với mục đích cổ phần hóa trong tương lai. Những công ty tư nhân này cũng có thể sẽ che giấu thu nhập hoặc “thổi phồng” thu nhập phụ thuộc vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Do sự xuất hiện tình trạng xung đột lợi ích (conflict of interest) trên giữa chủ sở hữu và ban giám đốc và sự tồn tại thông tin bất đối xứng (information asymmetry) giữa ban giám đốc và người sử dụng BCTC nên cần một bên thứ ba độc lập để đánh giá sự trung thực và minh bạch của các thông tin được trình bày trên BCTC thể hiện tình hình tài chính của công ty (DeAngelo, 1981). Bên thứ ba này được biết đến như là các Kiểm toán viên, thực hiện công việc kiểm tra tính trung thực, minh bạch và hợp lý, hợp pháp của các thông tin trên BCTC của các công ty. Trách nhiệm của KTV đối với các bản BCTC là cung cấp cuối cùng được thể hiện thông qua ý kiến của KTV về bản BCTC đó. Cho đến nay đã có rất nhiều vụ bê bối kế toán kiểm toán xảy ra, điển hình như vụ bê bối kế toán của Enron.

Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90$ từ giữa năm 2000 đã giảm xuống chỉ còn chưa tới 1$ vào cuối tháng 11/2001, khiến nhà đầu tư mất hàng nghìn tỷ đô và khoảng 20 nghìn nhân viên Enron mất việc làm, nhiều người trong số họ mất luôn cả khoản tiết kiệm vì đã góp vốn vào công ty. Nguyên nhân của sự việc này là do Enron đã tìm cách thổi phồng lợi nhuận của mình, che dấu hàng tỷ USD bị thua lỗ, đồng thời tạo áp lực để Công ty Kiểm toán Arthur Andersan (một trong năm công ty kiểm toán lớn nhất thế giời) bỏ qua các vấn đề kế toán có rủi ro quan trọng. Trong khi đó, những người quan tâm lại hoàn toàn tin tưởng vào BCTC đã kiểm toán. Ngay khi bị phát hiện, Enron đã trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ tính Page 10 tới thời điểm đó.

Rất nhiều các vụ bê bối khác như là Worldcom, Olympus, Tyco International, hay Parmalat và gần đây nhất là Toshiba… cũng đã khiến cho nhiều nhà đầu tư bị thua lỗ vì những quyết định đầu tư dựa trên các con số được điều chỉnh trên các bản BCTC đã được kiểm toán. Tại Việt Nam, nhiều nhà đầu tư đã bị “đánh lừa” bởi những con số đẹp được trình bày trên các bản BCTC đã được kiểm toán. Ví dụ như trường hợp công ty Dược Viễn Đông (DVD – sàn HSX) đã kinh doanh thua lỗ song BCTC vẫn thể hiện kết quả ấn tượng, nhưng cả hai công ty kiểm toán lớn là ACC và Ernst & Young đều không phát hiện ra hành vi điều chỉnh lợi nhuận của công ty này, khiến cho hàng nghìn nhà đầu tư thua lỗ vì đã tin tưởng vào BCTC đã được kiểm toán bởi công ty kiểm toán. Hay trong trường hợp ngược lại, các công ty như Tribeco (TRI), công ty Petrolimex, CTCP Quốc Cường Gia Lai (QCG), CTCP Vận tải biển và bất động sản Việt Hải (VSP), Tổng CTCP Phân bón và Hóa chất dầu khí (DPM) đã thực hiện hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận trên BCTC so với thực tế, tuy nhiên đã được phát hiện bởi các Kiểm toán viên cho thấy vai trò của KTV trong việc thực hiện chức năng kiểm tra của mình.

Và gần đây nhất là vụ việc của Ngân hàng Thương mại Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), đã làm nhu cầu của nhà đầu tư về việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của ban giám đốc ngày càng tăng. Vấn đề được đặt ra là những công ty có hành vi điều chỉnh lợi nhuận có khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần cao hơn các công ty khác hay không? Đã có một số công trình nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa ý kiến của KTV về BCTC và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Charalambos Spathis và Maria Tsipouridou (2013) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Athens ở Hy Lạp (Athens Stock Exchange – ASE), trong giai đoạn từ 2005 – 2011 và đưa ra kết luận ý kiến kiểm toán phụ thuộc vào khả năng hoạt động liên tục của công ty chứ không phụ thuộc vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Kathleen Herbohn, Vanitha Ragunathan (2008) đã nghiên cứu tất cả các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Australia giai đoạn từ 1999-2003, cho rằng điều chỉnh lợi nhuận không phải là nguyên nhân của ý kiểm kiểm toán không chấp nhận toàn phần.

Arnedo Ajona cùng cộng sự (2008) cũng nghiên cứu về mối quan hệ này đối với những công ty có mức độ rủi ro cao tại thị trường Tây Ban Nha, cho thấy điều chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần…Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam có tồn tại mối quan hệ này hay không thì vẫn chưa có một bài nghiên cứu nào cho vấn đề này. Do đó, đây sẽ là bài nghiên cứu đầu tiên về mối quan hệ đã được nêu ra. Vậy trên tổng thể, KTV có phát hiện ra những hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường hay không? Để trả lời cho câu hỏi này dựa trên cơ sở khoa học thì thật cần thiết để có một bài nghiên cứu cho mối quan hệ này. Page 11 Dựa trên các bài nghiên cứu trước đây trên thế giới và tình hình thực tế tại Việt Nam về hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Ban giám đốc và việc phát hành các ý kiến kiểm toán của KTV đối với các bản BCTC của các công ty niêm yết, nhóm nghiên cứu nhận ra thực sự cần thiết của nghiên cứu về mối quan hệ này.

Đóng góp dự kiến của đề tài Về mặt khoa học, nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ giúp những người quan tâm tới BCTC có cái nhìn khách quan hơn tới tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cụ thể nếu kết quả của bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận cùng chiều thì các báo cáo đã kiểm toán càng có độ tin cậy cao và ngược lại nếu không tồn tại mối quan hệ này thì các đối tượng bên ngoài cần tham khảo thêm từ các nguồn thông tin khác để có quyết định phù hợp hơn. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu chính của bài nghiên cứu là kiểm định mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán chấp nhận không toàn phần và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong công ty niêm yết tại Việt Nam.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đặt ra mục tiêu tìm hiểu về hành vi điều chỉnh lợi nhuận và phân tích một số nhân tố ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần. Để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đặt ra những câu hỏi nghiên cứu chi tiết cho vấn đề này như sau: Thứ nhất, ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần và hành vi điều chỉnh lợi nhuận có mối quan hệ như thế nào? Thứ hai, ngoài điều chỉnh lợi nhuận, trong mô hình được xây dựng có những nhân tố nào ảnh hưởng tới việc phát hành ý kiến không chấp nhận toàn phần của KTV? 1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Để đánh giá mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong DN, nhóm nghiên cứu đã tham khảo các nghiên cứu trước đây và đã tiến hành nghiên cứu tất cả các DN đang niêm yết (khoảng gần 900 DN) trên sàn chứng khoán HNX và HOSE và đã chọn ra được 92 DN nhận được ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần đối với BCTC năm 2014. Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và hành vi điều chỉnh lợi nhuận trong các công ty là đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Phương pháp nghiên cứu Nhóm nghiên cứu dùng phương pháp định lượng. Mẫu số liệu sử dụng trong BCTC đã kiểm toán của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Phần mềm nhóm nghiên cứu sử dụng để kiểm định mô hình là phần mềm SPSS. Page 13 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.

Hành vi điều chỉnh lợi nhuận Khái niệm điều chỉnh lợi nhuận Cho đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thống nhất cho câu hỏi điều chỉnh lợi nhuận (earning management) là gì. Thuật ngữ điều chỉnh lợi nhuận xuất hiện từ khá sớm. Trong bài nghiên cứu của Schipper (1989): “Điều chỉnh lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán trong quá trình cung cấp thông tin tài chính nhằm đạt được những mục đích cá nhân”. Điều chỉnh lợi nhuận phản ánh hành động của ban giám đốc trong việc lựa chọn các phương pháp kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty (Scott 1997).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu mối quan hệ giữa điều chỉnh lợi nhuận và ý kiến kiểm toán tại các công ty niêm yết Việt Nam" khám phá mối liên hệ giữa việc điều chỉnh lợi nhuận và các ý kiến kiểm toán trong bối cảnh các công ty niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự điều chỉnh lợi nhuận có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của các báo cáo tài chính, từ đó tác động đến quyết định của nhà đầu tư và các bên liên quan. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của kiểm toán trong việc duy trì tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính, giúp độc giả hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần thuận đức, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích chi tiết về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của quản trị trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán tp hồ chí minh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh hiện nay.