Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

229
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính doanh nghiệp trong bối cảnh các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Với sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và trách nhiệm xã hội, việc công bố thông tin phát triển bền vững đã trở thành một yếu tố quan trọng trong quản trị doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của việc công bố thông tin này đến hiệu quả tài chính, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng áp dụng các tiêu chuẩn bền vững tại Việt Nam.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về môi trường và xã hội. Việc công bố thông tin phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu từ các nhà đầu tư quốc tế mà còn là công cụ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân tích mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính, đặc biệt trong bối cảnh các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu cũng đánh giá mức độ áp dụng các tiêu chuẩn bền vững và tác động của chúng đến hiệu quả kinh doanh và quản trị tài chính.

II. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về quản trị doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, và phát triển bền vững. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích định lượng và định tính, sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính và báo cáo phát triển bền vững của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Các chỉ số tài chính như ROA, ROE, và Tobin’s Q được sử dụng để đo lường hiệu quả tài chính.

2.1. Lý thuyết liên quan

Nghiên cứu áp dụng các lý thuyết như Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory)Lý thuyết đại diện (Agency Theory) để phân tích mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính. Các lý thuyết này giúp giải thích tại sao việc công bố thông tin bền vững có thể tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Các biến độc lập bao gồm mức độ công bố thông tin phát triển bền vững, trong khi các biến phụ thuộc là các chỉ số tài chính như ROA, ROE, và Tobin’s Q.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Các doanh nghiệp có mức độ công bố thông tin bền vững cao thường đạt được hiệu quả tài chính tốt hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, và chất lượng kiểm toán có ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ này.

3.1. Phân tích mối quan hệ

Kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin phát triển bền vững và các chỉ số tài chính như ROA và ROE. Điều này cho thấy việc công bố thông tin bền vững không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín mà còn cải thiện hiệu quả tài chính.

3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố khác

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán có tác động đáng kể đến mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính. Các doanh nghiệp lớn và có kiểm toán chất lượng cao thường có mức độ công bố thông tin bền vững tốt hơn.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu kết luận rằng việc công bố thông tin phát triển bền vững có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Để thúc đẩy phát triển bền vững, các doanh nghiệp cần tăng cường công bố thông tin và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu cũng đề xuất các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước để khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các thực hành bền vững.

4.1. Kết luận

Nghiên cứu khẳng định mối quan hệ tích cực giữa công bố thông tin phát triển bền vữnghiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Việc công bố thông tin bền vững không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín mà còn cải thiện hiệu quả tài chính.

4.2. Đề xuất

Nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp nên tăng cường công bố thông tin phát triển bền vững và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ để khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các thực hành bền vững, từ đó nâng cao hiệu quả tài chính và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính Chương 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử và sự phát triển của Công bố thông tin phát triển bền vững Công bố thông tin phát triển bền vững (CBTT PTBV) hiện đã trở thành thông lệ quen thuộc giữa các công ty trên toàn thế giới và nó trở thành một yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp. Việc mở rộng công bố thông tin về tính bền vững là do sự gia tăng lợi ích của các bên liên quan tới hoạt động môi trƣờng, xã hội và quản trị của các công ty. Áp lực của các bên liên quan này thúc đẩy các công ty vƣợt ra khỏi báo cáo tài chính hàng năm và tiết lộ thông tin về môi trƣờng, xã hội và quản trị doanh nghiệp qua các báo cáo riêng hoặc đƣợc tích hợp cùng báo cáo tài chính.

Từ góc độ lịch sử, báo cáo phát triển bền vững đã trải qua bốn giai đoạn nhƣ hình 1.1 sau đây: Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4 Thập Báo cáo Thập Thập Báo cáo Báo cáo Báo cáo niên xã hội niên niên Phát triển 2010 1950 1980 môi trƣờng tích hợp 1990 bền vững Hình 1. Lịch sử và phát triển của công bố thông tin phát triển bền vững Giai đoạn 1: Báo cáo Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đƣợc chính thức định hình lần đầu vào năm 1953, khi H. Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Bowen & Johnson, 1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp gây ra cho xã hội. Từ đó tới nay đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tuy nhiên vấn đề này còn rất nhiều tranh luận trong nhiều nghiên cứu.

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đƣợc bắt đầu tại Mỹ và nhanh chóng lan tỏa ra toàn cầu nhƣ hiện nay, tuy nhiên đã có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này mà chúng ta có thể cảm nhận rõ ràng có sự đối lập khá lớn giữa Mỹ (hay nói chung là các nƣớc Anglo-saxon) và Châu Âu (đặc biệt là các nƣớc Âu châu lục địa nhƣ Anh, 6 Pháp,. Sự khác biệt này nằm ở nguồn gốc đạo đức và tôn giáo trong quan niệm của ngƣời Mỹ, với tính chính trị trong quan niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của Châu Âu vì nó đƣợc xây dựng dựa trên quan niệm về sự phát triển bền vững. Điều này có thể là do xã hội Mỹ ít nhạy cảm hơn trƣớc những nguy cơ mang tính tập thể nhƣ xã hội Châu Âu. Tại Mỹ ngƣời ta quan niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hay công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hoạt động tự nguyện và trách nhiệm xã hội đƣợc gói gọn trong các hoạt động từ thiện.

Những hoạt động này thể hiện qua hệ thống các quỹ xã hội do các doanh nghiệp thành lập – có thể quy mô đáng kể nhƣng vẫn luôn là những hoạt động ngoài các hoạt động kinh tế và không nằm trong hoạt động chính của doanh nghiệp. Ngƣợc lại tại Châu Âu, ngƣời ta có khuynh hƣớng cho rằng các hoạt động từ thiện không nằm trong lĩnh vực trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và đƣợc đánh giá đặt trong khuôn khổ các hoạt động thông thƣờng của doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hay công bố thông tin trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, có tính chất bắt buộc hơn là tự nguyện. Đặc biệt tại Pháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn đƣợc quy định trong luật về báo cáo xã hội từ năm 1977 (Law on Social Reporting, Article L. Việc tranh luận thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tự nguyện hay mang tính bắt buộc phụ thuộc nhiều vào quan điểm của ngƣời lãnh đạo khi xem xét giữa hiệu quả tài chính, tối đa hóa lợi nhuận là trong ngắn hạn hay dài hạn, cùng với việc tính toán chi phí và các áp lực từ bên trong, bên ngoài về việc thực hiện trách nhiệm xã hội.

(Friedman, 1970) dựa trên lý thuyết cổ đông, Friedman đã cho rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra càng nhiều tiền càng tốt cho các cổ đông của mình. Tuy nhiên ông cũng đã cẩn trọng hơn khi cho rằng nếu việc thực hiện và công bố trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp tối đa hóa đƣợc lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đƣờng này. Tƣơng tự, (Carroll, 1991) đã phát triển một khuôn khổ đƣợc gọi là “kim tự tháp của trách nhiệm xã hội” các khuôn khổ bao gồm trách nhiệm của công ty: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Nền tảng của kim tự tháp là trách nhiệm kinh tế: có lợi nhuận là điều cốt lõi trách nhiệm của một công ty; Lớp thứ hai của kim tự tháp là trách nhiệm pháp lý, công nhận tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật của các công ty nếu họ muốn tiếp tục vận hành; Tầng thứ ba của kim tự tháp là 7 trách nhiệm đạo đức – hoạt động theo đạo đức bằng cách làm những gì đúng và công bằng; Tầng trên cùng của kim tự tháp là trách nhiệm từ thiện, chỉ ra rằng các công ty nên đóng góp một số nguồn lực của họ cho cộng đồng.

TRÁCH NHIỆM TỪ THIỆN Hãy là công dân doanh nghiệp tốt. Đóng góp nguồn lực cho cộng đồng; cài thiện chất lƣợng cuộc sống. TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC Có đạo đức. Có nghĩa vụ thực hiện theo quyền, công bằng và văn minh.

Tránh xa cái xấu. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ Tuân thủ pháp luật. Pháp luật là bộ quy tắc ứng xử về điều đúng và điều sai. Thực hiện đúng theo pháp luật.

TRÁCH NHIỆM KINH TẾ Có lợi nhuận. Nền tảng dựa trên những giá trị nghỉ ngơi của ngƣời khác.2: Kim tự tháp trách nhiệm xã hội của (Carroll, 1991) Cùng quan điểm này còn có các nghiên cứu (Pomering, 2009), (Lima Crisóstomo, de Souza Freire, & Cortes de Vasconcellos, 2011), (Inoue & Lee, 2011), (Rhou, Singal, & Koh, 2016). Nhóm các nhà nghiên cứu có quan điểm dựa vào lý thuyết các bên liên quan của Freeman từ năm 1984 (Freeman, 2010). Theo quan điểm của nhóm này khi doanh nghiệp ra quyết định và thực hiện các hoạt động theo lợi ích cổ đông thì cần quan tâm tới các đối tƣợng khác nhƣ khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng.

Các hoạt động trách nhiệm xã hội sẽ cải thiện giá trị công ty, hiệu quả tài chính thông qua tiết kiệm chi phí, tăng cƣờng danh tiếng. Cùng quan điểm này còn có các nghiên cứu (Sandra A. Giai đoạn 2: Báo cáo Môi trƣờng Vào đầu những năm 1980, khái niệm bền vững đã đƣợc mở rộng trọng tâm từ báo cáo trách nhiệm xã hội sang cả báo cáo về môi trƣờng. Điều này là do sự phát triển của các thách thức môi trƣờng mà các doanh nghiệp phải đối mặt, chẳng hạn nhƣ ô nhiễm, suy thoái đất và sự cố tràn dầu (Deegan, 2014).

Với sự gia tăng nhận thức của các bên liên quan về tác động của doanh nghiệp đối với môi trƣờng, một số doanh nghiệp bắt đầu công bố các vấn đề môi trƣờng trong các báo cáo của họ. Báo cáo tự nguyện về các vấn đề môi trƣờng trong báo cáo hàng năm cho phép các công ty công bố thông tin về các hoạt động môi trƣờng của họ và bỏ qua những công bố bất lợi có thể ảnh hƣởng đến quyết định của các bên liên quan (Deloitte & Staden, 2011). Do đó, các công ty có các hoạt động môi trƣờng đƣợc công bố nhƣ một chiến thuật hợp pháp để ảnh hƣởng đến các quyết định của họ tới các bên liên quan. Giai đoạn 3: Báo cáo phát triển bền vững Năm 1987, trong Báo cáo “Tƣơng lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (World Commission on Environment and Development – WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” đƣợc định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thƣơng khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”.

Những năm 1990, các công ty bắt đầu công bố cả ba khía cạnh của tính bền vững: xã hội, môi trƣờng và kinh tế. Một khuôn khổ đƣợc gọi là ba dòng dƣới cùng (TBL) đƣợc phát triển bởi Elkington (Elkington, 1994) gồm xã hội, môi trƣờng và các yếu tố tài chính. Các thông lệ báo cáo về kết quả hoạt động xã hội, môi trƣờng và kinh tế của một công ty đƣợc gọi là báo cáo phát triển bền vững. Việc công bố các báo cáo bền vững ban đầu là tự nguyện, khi những thách thức về tính bền vững ngày càng tăng thì càng có nhiều nhu cầu về báo cáo bền vững từ các bên liên quan khác nhau, chẳng hạn nhƣ cổ đông, các cơ quan quản lý và cộng đồng xã hội.

Do đó, những năm 1990 chứng kiến sự phát triển của báo cáo bền vững, tuy nhiên chất lƣợng của thông tin báo cáo bền vững và cách nó đƣợc quản lý và hệ thống còn nhiều những vấn đề tranh cãi. 9 Một số sáng kiến đƣợc đƣa ra với mục đích cung cấp các hƣớng dẫn để nâng cao tính minh bạch của các báo cáo phát triển bền vững. Gần đây nhất và toàn diện là sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI), bao gồm 3 khía cạnh bền vững – xã hội, môi trƣờng và kinh tế. Sáng kiến này đƣợc coi là một hƣớng dẫn toàn diện cho báo cáo bền vững.

Mục tiêu chính là phát triển các hƣớng dẫn thống nhất về tính bền vững tự nguyện báo cáo, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp bằng cách đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan, cộng đồng, nhà bảo vệ môi trƣờng, lao động, các nhóm cổ đông, các nhà quản lý, đầu tƣ – có quyền truy cập vào tiêu chuẩn hóa, có thể so sánh và nhất quán thông tin tƣơng tự báo cáo tài chính doanh nghiệp. Năm 2000 GRI đã giới thiệu phiên bản đầu tiên của hƣớng dẫn báo cáo phát triển bền vững, hai năm sau 2002 thế hệ thứ hai ra mắt. Năm 2006 GRI giới thiệu phƣơng pháp phân loại đầu tiên cho các hƣớng dẫn thế hệ thứ ba.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam" khám phá sự liên kết giữa việc công bố thông tin về phát triển bền vững và hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc công khai thông tin về các hoạt động bền vững không chỉ nâng cao uy tín của doanh nghiệp mà còn có thể tác động tích cực đến hiệu quả tài chính, từ đó giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định thông minh hơn. Tài liệu này mang lại cái nhìn sâu sắc cho các nhà quản lý và nhà đầu tư về tầm quan trọng của việc minh bạch thông tin trong bối cảnh kinh doanh hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về hiệu quả kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ kế toán nghiên cứu tác động của nhân tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động tại các công ty thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của quản trị trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Thận Đức, giúp bạn có cái nhìn cụ thể hơn về thực tiễn trong ngành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp.