CHƯƠNG 1 Như đã nói ở trên, các nghiên cứu khác nhau xem xét HTKTQT ở những khía cạnh khác nhau. Nghiên cứu này áp dụng các yếu tố của Gerdin (2005) trong HTKTQT để xem xét. Như đã phân tích, mối quan hệ giữa hai nhân tố bên trong quan trọng trong tổ chức là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban và CCTC khi thiết kế HTKTQT, trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban có 3 hình thức phụ thuộc nhưng trong nghiên cứu này chỉ xem xét đến 2 hình thức chính và phổ biến (phụ thuộc liên tiếp và phụ thuộc tương hỗ), còn CCTC được quyết định bởi 5 nhân tố chính đó là: chuẩn hóa hoạt động, quy mô tổ chức, sự phức tạp, phân quyền, hình thức nhóm các đơn vị trong tổ chức.HCM chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu mối quan hệ giữa 2 nhân tố kể trên khi thiết kế HTKTQT trong các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may nên đây là hướng nghiên cứu mới của đề tài này. Các chương tiếp theo sẽ làm rõ hơn về cơ sở lý thuyết, mô hình, phương pháp nghiên cứu của đề tài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 2.1 Hiện trạng phát triển ngành dệt may TP. Theo Lê Thị Kiều Oanh và Hồ Thị Minh Hương (2014, trang 51 – 56) đã đánh giá hiện trạng phát triển ngành dệt may TP.HCM qua 4 tiêu chí: số lượng cơ sở sản xuất, Quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động công nghiệp ngành dệt may, kim ngạch xuất khẩu. Cụ thể như sau: 2.1 Số lượng cơ sở sản xuất ngành Dệt may TP. Trong giai đoạn 10 năm 2001 – 2010 và đến năm 2011, các cơ sở sản xuất ngành dệt may thành phố đều có những bước tăng nhanh về số lượng.
Trong đó khu vực tư nhân luôn chiếm số lượng đông đảo nhất trong ngành. Số lượng cơ sở của khu vực này đã tăng nhanh từ 7. Tuy nhiên, sự gia tăng cơ sở của khu vực kinh tế này chủ yếu là từ các cơ sở cá thể với số lượng chiếm 81,4% số lượng của khu vực ngoài nhà nước.2 Quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. - Quy mô nguồn vốn: Theo số liệu điều doanh nghiệp dệt may TP.HCM của Tổng cục thống kê, đến năm 2010 tổng nguồn vốn của khu vực ngoài nhà nước đạt trên 37.360 tỷ đồng, chiếm tới 66,3 tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp toàn ngành.
Tuy nhiên nguồn vốn bình quân của doanh nghiệp có giá trị không cao, chỉ đạt khoảng 13,6 tỷ đồng/ doanh nghiệp. - Hiệu quả sản xuất: Tổng doanh thu năm 2010 của toàn ngành đạt gần 52.390 tỷ đồng trong đó khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 56,8%.3 Lao động công nghiệp ngành Dệt may. Tổng số lao động công nghiệp ngành dệt may thành phố năm 2011 là 423.912 người, tăng 17,6% so với năm 2010. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2006 – 2010 và năm 2011, tỷ trọng lao động ngành dệt may luôn duy trì khoảng 29 – 30% tổng lao động toàn ngành công nghiệp thành phố.
Tuy nhiên chất lượng lao động ngành dệt may thành phố còn ở mức thấp, với tỷ trọng lao động trình độ sơ cấp chiếm tới 85,5%, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 nhóm các lao động từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm khoảng 5,1%, tương đương với nhóm trung cấp chuyên nghiệp với khoảng 5,27% trong cơ cấu lao động toàn ngành dệt may TP. Do đó trong giai đoạn tới lực lượng lao động của ngành dệt may thành phố cần tiếp tục được đầu tư, đào tạo, nâng cao trình độ để đáp ứng nhu cầu phát triển.4 Kim ngạch xuất khẩu. Gía trị xuất khẩu của hàng may mặc năm 2011 của ngành Dệt may thành phố đạt khoảng 2.200 triệu USD, tăng 18,1% só với mức đạt năm 2010 (toàn thành phố đạt 19,4%) và chiếm tỷ trọng 10,7% trong cơ cấu xuất khẩu toàn thành phố. Trong giai đoạn 2006 -2010 giá trị xuất khẩu của hàng may mặc đạt tốc độ tăng trưởng 16,9%/năm, cao hơn mức tăng của giá trị xuất khẩu toàn thành phố (đạt 7,1%/năm) và luôn duy trì chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của thành phố.
Năm 2010, giá trị xuất khẩu của hàng may mặc thành phố đạt gần 1.2 Khái quát về hệ thống kế toán quản trị.1 Kế toán quản trị. Theo Luật kế toán Việt Nam: “KTQT là việc thu thập, xử lí, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”. Theo thông tư 53/2006/TT-BTC thì thông tin hoạt động nội bộ mà KTQT cung cấp có thể là: chi phí của từng bộ phận, từng công việc, từng sản phẩm; phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; phân tích mối TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định đầu tư ngắn hạn, dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Qua các định nghĩa và khái niệm về KTQT vừa nêu ở trên, chúng ta có thể thấy rằng việc hình thành, duy trì và phát triển hệ thống KTQT là nhằm giúp cho nhà quản trị có được thông tin hữu ích cho việc ra quyết định, điều hành và quản lí, hoạch định và KTQT luôn gắn liền với nhu cầu thông tin quản trị của những nhà quản trị trong doanh nghiệp.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị.
Mục tiêu: - Theo trường phái Anh, Mỹ: KTQT là một bộ phận của quản trị, mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin ra quyết định quản trị của các nhà quản trị trong nội bộ tổ chức. - Theo trường phái Đông Âu, Nhât: KTQT là một bộ phận kế toán – kế toán nội bộ, mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin kiểm soát hoạt động doanh nghiệp của những nhà quản trị trong nội bộ tổ chức. - Các nước khác: chưa có quan điểm điểm riêng, chỉ là sự xác lập các quan điểm kế toán quản trị theo một trong hai trường phái trên. Để thực hiện các công việc trong quá trình quản lý hoạt động của tổ chức, các nhà quản lý cần thông tin.
Thông tin mà các nhà quản lý cần để thực hiện công việc được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: các nhà kinh tế, các chuyên gia tài chính, các chuyên viên tiếp thị, sản xuất và các kế tóan viên quản trị của tổ chức. Nhìn chung, hệ thống thông tin KTQT có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho nhà quản trị để thực hiện các hoạt động quản lý. KTQT có 4 mục tiêu chủ yếu sau: Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định. Trợ giúp nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát họat động của tổ chức.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20 Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ chức. Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong tổ chức. Nhiệm vụ : Từ các mục tiêu trên, KTQT có các nhiệm vụ sau: Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ. Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo KTQT. Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo đơn vị.1 Vai trò của kế toán quản trị. Dựa trên định nghĩa về KTQT, chúng ta nhận thấy vai trò của kế toán quản trị được thể hiện tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị như sau: Phục vụ chức năng hoạch định: cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, của đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật… Phục vụ chức năng tổ chức – điều hành: cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp. Phục vụ chức năng kiểm soát: cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự tóan và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 21 Phục vụ chức năng ra quyết định: thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị lựa chọn phương án tối ưu nhất. Vai trò của kế toán quản trị được thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị trong công ty. Cấp độ quản trị cấp cơ sở: giúp nhà quản trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lí. Cấp độ quản trị cấp trung gian: giúp nhà quản trị cấp trung gian giám sát và đưa ra quyết định về các nguồn lực như nguyên vật liệu, vốn đầu tư, sản phẩm, … Cấp độ quản trị cấp cao: giúp cho nhà quản trị cấp cao đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn.2 So sánh KTQT ở Mỹ, Anh, Pháp Bảng 2.1: So sánh KTQT ở Mỹ, Anh, Pháp So sánh KTQT ở Mỹ, Anh KTQT Pháp Mô hình kế toán động, kế toán Mô hình kế toán tĩnh, tài chính và KTQT được tổ kế toán tài chính và chức kết hợp với nhau.
KTQT KTQT được tách rời luôn được nhận thức là một bộ nhau, độc lập tương Mô hình KTQT phận chuyên môn (có thể đối.