Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về phân loại, hình thái, phân bố và sinh thái của cây Trôm 1. Nghiên cứu về phân loại và hình thái Trôm có tên khoa học là Sterculia foetida L, thuộc chi Trôm (Sterculia) của họ Trôm (Sterculiacea) (Niran V.
Trôm còn có một số tên gọi khác: Java Olive, Wild almond, Bottle tree hoặc Bastard poom tree (tiếng Anh), Sam-rong (tiếng Thái), Janglibadam (tiếng Hindi, Bengali). Trôm là cây gỗ lớn, chiều cao đến 40 m và chu vi ở độ cao ngang ngực lớn nhất có thể đến 3 mét. Trôm có thân thẳng, cây rụng lá theo mùa. Vỏ thân cây mịn, màu xám.
Lá tập trung đầu cành, lá kép chân vịt với 7 - 9 lá chét. Hoa mọc từ nách lá, có nhiều bông, dài 10 - 15 cm, khá lớn, màu xanh lá cây hoặc màu tím, hoa mọc đơn tính, với các hoa đực và hoa cái riêng biệt, thùy hoa có kích thước từ 1 -1,3 cm (Niran V. Cây ra hoa từ tháng 3 đến tháng 4, ngay sau đó xuất hiện quả. Quả chín vào tháng 2 năm sau gần 11 tháng sau khi ra hoa.
Nghiên cứu về phân bố và sinh thái Trôm được tìm thấy ở vùng nhiệt đới châu Phi và châu Á như Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka, Myanmar, Kenya, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Somalia, Tanzania và một phần bán tự trị Zanzibar của Uganda, Yemen, Cộng hòa Djibouti, Eritrea, Ethiopia châu Phi và Ghana, Puerto Rico Trung Mỹ (Prakash Y. Vùng phân bố của Trôm tương đối rộng, Trôm phát triển tốt nhất ở những nơi có tổng giờ nắng cao, ít giá lạnh, nhiệt độ dao động từ 18 - 32°C, c 4 tối thấp khoảng 16°C và tối cao 36°C. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.800 mm, nhưng cũng có thể chịu được nơi có lượng mưa từ 900 - 2. Trôm cũng phát triển ở những khu vực có hoặc không có mùa khô rõ ràng.
Trôm thường mọc tập trung ở độ cao dưới 1.500 m so với mặt nước biển. Là loài cây ưa thích tầng đất sâu, màu mỡ, ẩm nhưng thoát nước tốt, pH trong khoảng 6 - 7,5 nhưng vẫn sống được trên các loại đất có pH từ 5 – 8. Nghiên cứu về các công dụng của Trôm 1. Công dụng của mủ Trôm Theo Niran V., 2009 [17], Trôm thuộc nhóm loài cho lâm sản ngoài gỗ.
Khi bị tác động, vỏ Trôm tiết ra một chất mủ (gôm) có màu vàng hơi xanh, trắng đục hay trắng trong tùy vào địa điểm trồng và kỹ thuật tác động. Mủ Trôm dễ hòa tan. Khi đưa ra ngoài ánh sáng, mủ Trôm có màu nâu. Mủ Trôm được dùng làm đồ uống giải khát, giải độc và chống táo bón.
Do có thành phần chất xơ cao và có khả năng trương nở gấp 8 đến 10 lần trong nước và kết dính cặn bã độc hại trong ruột già, nên mủ Trôm có khả năng làm tăng lượng phân và nhu động ruột. Ngoài ra, mủ Trôm còn góp phần cải thiện, làm giảm hàm lượng mỡ trong máu, tăng cảm giác no và điều tiết lượng đường trong máu ở người thừa cân, béo phì hoặc đái tháo đường.2 Công dụng hạt Trong hạt Trôm, axit palmitic chiếm tỷ lệ lên đến 52% hạt, còn axit sterculic khoảng 10%. Kết quả nghiên cứu của Niran V. cho thấy axit sterculic trong dầu Trôm chiếm từ 45-72%, khác với một số nghiên cứu trước đây.
Theo Sabria Aued-Pimentel và cs (2004), dầu chiết xuất từ Trôm có thể dùng để ăn, nhưng cũng thường dùng để thắp sáng. Bột của hạt ăn được và dùng chế biến các loại bánh. Trong dầu Trôm có rất nhiều axit béo và các chất khác. Trong 100 gram dầu Trôm có C16:0 15 gram; c 5 C16:10,13 gram; C16:2 7,7 gram; C16:3 0,2 gram; Malvalic acid 5,4 gram; Sterculic acid 54 gram; C16:0 0,15 gram.
Đây là những chất có lợi cho sức khỏe. Hạt Trôm ăn được khi rang hoặc chiên. Hạt cũng được ăn để tẩy giun sán. Dầu từ hạt thường được sử dụng trong ẩm thực địa phương hay trong y học để điều trị các bệnh ngoài da và bệnh thấp khớp hoặc để đốt giống như nến.
Hạt cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp xà phòng và sơn. Hạt có hương vị rất giống cacao nên nhiều nơi thường lấy hạt Trôm để làm giả hạt cacao (Niran V., 2011) [20] cho rằng ellelopathic có trong hạt Trôm có thể chống cỏ dại trong nông nghiệp. Chất này có thể chống được 4 loại cỏ dại: Calotropis gigantea (R.) và Tridax procumbens (L. Thành phần herbicidal có trong hạt Trôm giống như là một axit béo cyclopropene có nguồn gốc hợp chất tinh khiết đóng vai trò như một loại thuốc diệt cỏ tiếp xúc, gây hoại tử, phần gân lá biến thành màu vàng sau đó lá rụng.
Tiềm năng herbicidal có trong hạt Trôm đã được tác giả kiểm chứng đối với hạt nảy mầm, chồi và chiều dài gốc của loại cỏ dại. Công dụng của vỏ và lá Khi tách chiết lá Trôm bằng ethanol, người ta thu được hợp chất có tính kháng khuẩn, kháng nấm, antiprotozoal và gây độc tế bào. Các chất này gây ức chế sự phát triển của một số loại nấm như Staphylococcus aureus và Escherichia coli. Do đó, dịch chiết xuất bằng ethanol có trong lá Trôm có thể được sử dụng để sản xuất thay thế kháng sinh (Pierangeli G.
Ở Java và Philippines, nhiều bộ phận của Trôm được dùng làm thuốc. Thân, vỏ và lá non được dùng chữa thấp khớp, thùy thũng. Nước sắc lá để chữa vết thương đã mưng mủ (dẫn theo Võ Văn Chi, 1997) [3]. Lá Trôm chứa c 6 2,66% là canxi, một lượng lớn protein, photpho…được sử dụng để làm thức ăn cho gia súc (Prakash Y.
Nghiên cứu về nhân giống gây trồng Trôm 1. Nhân giống Tại Tây Ban Nha, Luan Henrique Barbosa de ARAÚJO và cs (2015) đã xác định ảnh hưởng của che sáng đến sinh trưởng của Trôm trong giai đoạn vườn ươm. Mục đích của thử nghiệm này là đánh giá sự cần thiết phải che sáng trong sản xuất cây giống. Thí nghiệm được thực hiện với 4 nghiệm thức che sáng (0%, 50%, 70% và 92%); mỗi nghiệm thức 35 cây, 3 lần lặp.
Kết quả thí nghiêm được phân tích so sánh thông qua 4 chỉ tiêu: chiều cao cây, đường kính cổ rễ, số lá và tỷ lệ sinh khối khô so với chiều cao và đường kính cổ rễ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức che sáng 50% đảm bảo cho Trôm sinh trưởng tốt về đường kính cổ rễ (5,31 mm), chiều cao (27,37 cm), số lá và sinh khối lá. Trôm sinh trưởng rất kém ở mức che sáng 92%; trong đó đường kính cổ rễ là 4,65mm, chiều cao là 17,30cm, chất lượng cây con không đảm bảo., 2002 [14], Trôm có thể được nhân giống bằng hình thức giâm hom. Sử dụng các loại chất kích thích sinh trưởng ra rễ như IBA và NAA (0,1-2mg/L), IAA (2 mg/L).
Hom từ các chồi búp (đầu cành) cho tỷ lệ ra rễ khoảng 40%., 2001 [13] đã nhân giống Trôm bằng phương pháp nuôi cấy mô. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chồi đỉnh và trụ dưới lá mầm phát sinh tốt (3 - 5 chồi) trong môi trường MS có bổ sung BAP 2mg/l; ra rễ tốt trong môi trường 1/2MS có bổ sung IAA 2 mg/l. Những cây phát sinh mô rễ được cấy vào bầu ở vườn ươm và sau đó trồng thành rừng với tỷ lệ sống chỉ còn 40%. Gây trồng Yashwant Rai (2014)trong một thí nghiệm về gieo ươm hạt Trôm trongcác chậu xi măng với thành phần 3 đất : 1 phân chuồng.
Kết quả cho thấy sau 7 ngày Trôm bắt đầu nảy mầm và sau 21 ngày thì tỉ lệ này mầm đạt 70%. Sau 6 tháng, chiều cao cây con đạt 99,96 cm. Nếu sử dụng những cây con này để trồng phân tán, thì sau 6 tháng đem trồng cây sinh trưởng tốt với Hvn trung bình 145,44cm và D1. Phân loại, phân bố, sinh thái và vật hậu 1.
Nghiên cứu về phân loại và hình thái Theo Trần Hợp (2002) [6]; Đỗ Huy Bích và cộng sự (2003) [1]; Võ Văn Chi (1997) [3] và một số tác giả khác thì Trôm (Sterculia foetida L.) thuộc họ Trôm (Sterculiaceae). Tên khác: Trôm quạt, Trôm hôi, Trôm thối, Quả mõ, Chim chim rừng, Mạy trôm (Tày). Ở Việt Nam chi này có 25 loài, gồm nhiều loài cây gỗ lớn hay nhỏ, mọc phổ biến trong rừng tự nhiên như cây Sảng (Sterculia lanceolata) hoặc cây Bo (Sterculia pexa),. Nhiều cây trong chi này thường mang cùng tên là Trôm hoặc Bo (Phạm Hoàng Hộ, 2000 [5]; Trần Hợp, 2002 [6]).
Cây Trôm hơn 20 tuổi được trồng tại Tuy Phong, Bình Thuận(Phạm Trọng Nhân và cs, 2018[12]) Trôm là cây gỗ lớn, cao 25 - 30m, đường kính tới trên 2,0 m, thân hình trụ, thẳng, cành có những sẹo lá hình tim, vỏ màu nâu đậm, phân cành cao, mập, gãy khúc, tán rộng, dày. Lá kép chân vịt có 5 - 9 lá chét, lá chét 10-11 hình mác, mặt trên nhạt mặt dưới màu lục xám, lá kèm dễ rụng, cuống ngắn c 9 dày 1 cm. Lá dài 30 cm, có nơi rụng vào mùa khô, gân bên xếp song song nổi rõ cả 2 mặt. Cuống chung dài 10 – 20 cm, mảnh.
Cụm hoa dạng chùy, xuất hiện cùng với lá non, cụm hoa mọc ở ngọn gồm những chùm hẹp, nhẵn, dài 15-20 cm. Hoa tạp tính, có mùi rất hôi, lá đài màu đỏ mặt trong, có ít lông mép. Nhị đực và bầu trên 1 cột, mang 1 - 15 bao phấn. Hoa nở tháng 2 - 3, quả chín tháng 10-12.
Quả gồm 5 đâì chòi ra, gồm 1-5 ngăn, hình trứng, dài đến 10cm, đầu hơi nhọn. Vách quả dày, cứng hoá gỗ, màu đỏ sau chuyển qua đỏ đến đen. Hạt nhiều, 10 - 15 hạt/ quả, thuôn dài 1,8-2cm, màu đen bóng (Phạm Hoàng Hộ, 2000 [5], Trần Hợp, 2002 [6], Đỗ Huy Bích, 2006 [1]). Nghiên cứu về đặc điểm phân bố và sinh thái Ở Việt Nam, Trôm mọc rải rác ở vùng rừng cây lá rộng thường xanh, trên núi đất hay núi đá.
Đôi khi Trôm cũng được trồng ở quanh làng bản, bờ hồ để lấy bóng mát (Đỗ Huy Bích, 2006) [1]. Trong tự nhiên, Trôm thường mọc ở các tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng) và các tỉnh miền duyên hải Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận). Ở Ninh Thuận, Trôm phân bố ở nhiều nơi nhưng thường bắt gặp ở vùng rừng ven biển thuộc xã Phước Dinh của huyện Ninh Phước. Ở đây Trôm cho mủ khô và trắng.
Trôm cũng đã được trồng ở nhiều thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuật để làm cây cảnh và cây bóng mát trong các công viên, đường phố. Hiện tại Trôm được trồng ở nhiều nơi như Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa, Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh và một số tỉnh miền Tây (An Giang, Bến Tre, Kiêng Giang).