Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý vì +. ‘CHU DAN vì Xuan Loc Địa điểm điều ee} liểm bốtrí mô hình- }“Hàn Tân „~ Tân The Du suy) “a Hình 1.
Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu tại huyện Tánh Linh Huyện Tánh Linh nằm ở phía Tây tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện Xuân Lộc, tinh Đồng Nai và huyện Đức Linh; Phía Bắc giáp huyện Da Huoai và huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; Phía Đông giáp huyện Hàm Thuận Nam và huyện Hàm Thuận Bắc; Phía Nam giáp huyện Hàm Tân và huyện Hàm Thuận Nam. Địa hình Huyện Tánh Linh có địa hình thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc vào Nam, khu vực đất đồng bằng, đất có địa hình trung bình thấp và thấp trũng chiếm diện tích khá lớn, trên địa hình này thuận lợi cho việc tưới nước, song thường hay ngập lụt vào mùa mưa. Khí hậu Bảng 1. Dữ liệu khí hậu của huyện Tánh Linh năm 2020 Tháng | 2 3 4 5 6 Ỷ 8 9 10 11 12 Tổng Luong mua 21 °) 12 90 200 315 336 308 380 300 148 60 2.175 (mm/thang) Sô ngày mưa trung bình 2 0 0 5 13 18 20 18 21 18 13 5 133 (ngay/thang) (Nguon: Cong thông tin điện tử tỉnh Bình Thuận, 2020) Khí hậu của huyện Tánh Linh diễn biến theo 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa (từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 11) cây trồng sinh trưởng và phát triển mạnh, đây là mùa sản xuất chính. Mưa lớn tập trung vào các thang 6, 7, 8, 9 và 10 nên thời gian này thường gây ra lũ quét, ngập úng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp nhất là ở những vùng sản xuất lúa và cây hàng năm. Mùa khô từ cuối tháng 11 đến giữa tháng 4 năm sau, thường ít có mưa nên gây thiếu nước nghiêm trọng, cây côi sinh trưởng và phát triển kém, nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất cây trồng. Vì vậy ngoại trừ những diện tích đất được tưới, còn lại hầu hết chỉ sản xuất được trong mùa mưa (Bang 1.
Các xã phía Tây và phía Nam của huyện có lượng mưa thấp, trung bình hàng năm khoảng 1. Ngược lại các xã ở phía Bắc và Đông của huyện mùa mưa từ cuối tháng 4 đến hết giữa tháng 11, có lượng mưa cao trung bình năm 2.185 mm có khi cao tới 2. Thủy văn Trên địa bàn huyện Tánh Linh có sông La Ngà, là con sông chính lớn nhất của huyện và cũng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp trong vùng, là phụ lưu cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi của cao nguyên Di Linh (Lâm Đồng) cao trên 1.300 m chảy từ thượng nguồn xuống đến huyện Tánh Linh theo hướng Bắc - Nam, sau đó bị chắn bởi núi Ông và núi Dangruin và đổi hướng Đông — Tây cao nguyên Di Linh tỉnh Lâm Đồng. Sông La Nga chảy qua huyện Tánh Linh có chiều dài khoảng 50 km, diện tích lưu vực khoảng 417,4 km?, mực nước trung bình năm 11.
Ngoài sông La Ngà còn có sông Lay Quang dài 30 km, sông Phan, sông Cái, sông Dinh, hồ Biển Lạc và 45 con suối. Đặc biệt là hồ Biển Lạc với diện tích ngập bình quân là 300 ha, có nước quanh năm. Đây là một trong những nguồn nước quan trọng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản của vùng. Tuy nhiên ở các con suối nhỏ chỉ có nước vào mùa mưa.
Nhìn chung huyện Tánh Linh có nguồn nước mặt tương đối dồi dào, đảm bảo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác. Tuy nhiên do sông, suối, hẹp, ngắn dốc lại chảy qua nhiều địa hình phức tạp, chuyền đột ngột từ miền núi xuống đồng bằng, không có đê chắn nước nên vào mùa mưa thường gây ra lũ lụt, ngập úng, nhất là những nơi có địa hình thấp, trũng. Hoặc lũ quét, gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. Dân số Năm 2020, dân số toàn huyện là 98.509 người, mật độ dân số trung bình là 82,2 ngudi/km’, trong đó, phần lớn dân số sống ở nông thôn (chiếm 83,1% số dân toàn huyện) (Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận, 2020).
Lao động Toàn huyện Tánh Linh có khoảng 73.305 người trong độ tuôi lao động, chiếm 74,41% tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động; trong đó lao động nữ là 65,08% và tỷ lệ lao động nam là 34,92%. Tỷ lệ lao động trong nhóm ngành nông lâm nghiệp- thủy sản ở Tánh Linh là cao nhất, chiếm 52,14%; nhóm ngành công nghiệp xây dựng là 18,62% và nhóm ngành dịch vụ là 29,24% (Số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tại tỉnh Bình Thuận). Lực lượng lao động qua đảo tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm ty lệ thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, phổ thông, chưa qua đào tạo. Cơ cấu lao động cũng có sự chuyền dịch tích cực, phù hợp với sự chuyên dịch cơ cau GDP, tăng ty trọng lao động công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động nông lâm nghiệp.
Lao động ở khu vực quốc doanh giảm mạnh, khu vực tư nhân tăng, đặc biệt tăng nhanh ở các ngành thương mại, dịch vụ - du lịch. Chất lượng lao động ngày càng cao và có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành kinh tế. Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Tánh Linh ở mức trung bình, chiếm tỷ lệ là 14,77% so với toàn tỉnh; trong đó, tỷ lệ lao động có trình độ sơ cấp chiếm 23,36%, trình độ sơ cấp là 20,92%, trình độ cao đẳng là 18,21% và trình độ đại học trở lên chiếm 37,51% (Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, 2019). Cơ cau cây trồng 1.
Khái niệm cơ cấu cây trồng Cơ cấu cây trồng (CCCTr) là thành phần các giống và loài cây được bố tri theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có (Đào Thế Tuấn, 1997). Theo quan điểm sinh thái nông nghiệp, CCCTr là trung tâm của hệ thống trồng trọt, là một bộ phận chủ yếu của hệ thống canh tác. Đối tượng nghiên cứu chính của hệ thống cây trồng là kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống bao gồm các chỉ tiêu chất lượng, đa canh. Việc phát triển CCCTr chủ yếu phải dựa vào “hiệu ứng hệ thong” bằng việc bố trí lại hoặc chuyển đổi hệ thống cây trồng thích ứng với các điều kiện đất đai, chế độ khí hậu, chế độ nước, các nguồn lực tự nhiên, lao động, vốn (Nguyễn Duy Tính, 1995).
CCCTr là tiền đề bé trí chế độ luân canh cây trồng, thay đổi theo những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, giải quyết vấn đề mà thực tiễn sản xuất đặt ra (Lê Song Dự, 1990; Lý Nhạc và ctv, 1987). CCCTr hợp lý là phù hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng. CCCTr hợp lý còn thê hiện tính hiệu quả mối quan hệ giữa cây trồng được bồ trí trên đồng ruộng làm cho sản xuất ngành trồng trọt phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh, gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế cao. CCCTr hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải tiễn CCCTr cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở tô hợp lại các công thức luân canh, tô hợp lại các thành phần cây trồng, giống cây trồng, nhằm đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đây lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao và bảo vệ môi trường sinh thái (Mai Văn Quyền, 1996; Nguyễn Duy Tính, 1995).
CCCTr hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng bao gồm cây trồng, vị trí cây trồng và tỷ lệ diện tích từng loại cây trồng cùng với mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau, có tính chất xác định lẫn nhau trong cơ cấu đề tạo thành hệ thống cây trồng cùng nhóm (Đào Thế Tuấn, 2003). Cải tiến CCCTr hợp lý có vai trò quan trọng thúc đây chuyên dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng giá trị tong sản phẩm, tăng giá tri hàng hoá, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân (Nguyễn Viết Kim, 1997). Những yếu tố chỉ phối cơ cau cây trồng Theo Phạm Chí Thành và ctv (1996), người nông dân trồng loại cây gì, diện tích bao nhiêu vào lúc nào, ở đâu, kỹ thuật áp dụng, luân canh cây trồng như thế nào là tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu), điều kiện kinh tế (giao thông, thủy lợi, nhu cầu thị trường) và điều kiện xã hội (chính sách của nhà nước, phong tục tập quán). Khí hậu Cây trồng có mối quan hệ qua lại phức tạp với các điều kiện tự nhiên, trong đó có yêu tô khí hậu.
Diễn biến khí hậu thường được thể hiện bởi thời tiết, chúng là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến cây trồng, được thể hiện qua năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt hay xấu). Vi vậy, nghiên cứu CCC Ti, điều cần quan tâm đầu tiên là các yếu tố thời tiết cấu thành khí hậu. Những điều kiện khí hậu được xác định cho nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và chế độ nước. Đó là những yếu tố không thé thiếu và thay thé được đối với sự sống của cây trồng.
Ngoài ra, cũng phải thấy "khí hậu nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố quyết định sự phân bố động, thực vật trên trái đất, ngay cả mạng lưới sông ngòi, độ màu mỡ của đất cũng là hệ quả của khí hậu (Nguyễn Văn Viết, 2001, 2007). Ánh sáng: Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng họp chất hữu cơ của cây. Ánh sáng là yếu tô biến động, ảnh hưởng đến năng suất. Khi xem xét vai trò của ánh sáng (độ dài ngày ngắn hay dài) đối với cây trồng phải xem xét độ dài ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng (Cao Liêm và ctv, 1995; Nguyễn Văn Viết, 2007).
Nhiệt độ: Theo Nguyễn Văn Viết (2007) diễn biến của nhiệt độ có ý nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được bảo đảm.