MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) thuộc chi Camellia (Thea), thuộc họ Thea cea. Là cây công nghiệp có nhiệm kỳ kinh tế dài, hiệu quả kinh tế cao và ổn định, có tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và nền kinh tế toàn cầu. Trên thế giới có khoảng 40 nƣớc trồng chè, đƣợc trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến các nƣớc ở châu Phi.
Theo tổ chức Lƣơng thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) các nƣớc có sản lƣợng chè cao là Trung Quốc (1.308 tấn/năm), Thổ Nhĩ Kỳ (174. và trong đó có Việt Nam với sản lƣợng 116. Ở Việt Nam cây chè đã có từ rất lâu đời. Do điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp cây chè trồng ở các vùng Trung du - Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên phát triển rất mạnh.
Theo kết quả điều tra năm 2002, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có diện tích trồng chè là 56.566 ha, là vùng có quy mô lớn nhất cả nƣớc. Năng suất bình quân đạt 4,72 tấn/ha, các tỉnh có năng suất bình quân cao nhƣ Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình. Trong đó,Thái Nguyên là một trong những vùng chè lớn thứ hai của cả nƣớc sau Lâm Đồng [4]. Diện tích trồng chè của Thái Nguyên là 18.600 ha, trong đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lƣợng đạt gần 185 nghìn tấn, với các vùng chè nổi tiếng nhƣ vùng chè Tân Cƣơng, vùng chè Trại Cài - Minh Lập, vùng chè Sông Cầu (Đồng Hỷ), vùng chè La Bằng (Đại Từ), vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô (Phú Lƣơng),… Vùng chè có diện tích lớn nhất là vùng chè Tân Cƣơng, tiếp đó là Đồng Hỷ với vùng chè đặc n 2 sản Sông Cầu nổi tiếng.
Hiện nay Đồng Hỷ có 2700 ha chè, riêng vùng chè Sông Cầu có 11 xóm với tổng diện tích đất trồng chè gần 500 ha. Và nổi bật hơn cả là Làng nghề truyền thống Sông Cầu xóm 5. Tổng diện tích chè của Làng nghề xóm 5 là 85 ha, trong đó có 75 ha chè cành. Giống chè đƣợc trồng chủ yếu là các giống chè cành có năng suất và chất lƣợng cao nhƣ Bát Tiên, Kim Tuyên, Chè Nhật, Phúc Vân Tiên,.
Mỗi năm, làng nghề cung ứng ra thị trƣờng hàng trăm tấn chè khô các loại. Cùng với việc đẩy mạnh công tác chuyển đổi cơ cấu giống chè, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất ngƣời dân làng nghề chè xóm 5 còn tích cực tham gia quảng bá thƣơng hiệu chè của mình đến với ngƣời tiêu dùng. Hằng năm, làng nghề đều tham gia tích cực vào Lễ hội văn hóa trà của tỉnh. Tại Festival Trà Quốc tế Thái Nguyên lần thứ nhất (2011) và lần thứ 2 (2013), sản phẩm chè của xóm 5 đã xuất sắc đoạt Cup Bàn tay vàng và Búp chè bạc.
Đặc biệt năm 2014, sản phẩm chè mang thƣơng hiệu xóm 5, thị trấn Sông Cầu đã đƣợc Báo ngƣời tiêu dùng Việt Nam chấm điểm và bình chọn là sản phẩm đạt Cup vàng chất lƣợng, đứng đầu trong top 100 sản phẩm uy tín của cả nƣớc [1]. Tuy nhiên, hiện nay thực trạng sử dụng phân bón hóa học không đúng cách và lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dẫn đến tồn dƣ hóa bảo vệ trong sản phẩm chè đang ngày càng gia tăng đã làm cho chất lƣợng sản phẩm chè có nguy cơ ngày càng suy giảm, mất dần thƣơng hiệu, làm ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng đất, nguồn nƣớc,… Xuất phát từ thực tế đó, để đảm bảo thƣơng hiệu và uy tín của vùng chè, vấn đề chất lƣợng và phẩm chất chè càng cần đƣợc nâng cao là vấn đề hết sức cấp thiết. Để tìm hiểu thực trạng, tiềm năng và những triển vọng trong sản xuất chè tại vùng chè Sông Cầu nói riêng, tỉnh Thái Nguyên nói chung đƣợc sự đồng ý của Ban giám hiệu trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa: Khoa Nông Học, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy Phạm Văn Ngọc, n 3 em tiến hành thực hiện đề tài: : “Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón hữu cơ sinh học nông lâm 16 đến sinh trưởng, phát triển giống chè Kanayamidory tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Xác định lƣợng phân Nông lâm 16 thích hợp với giống chè Nhật tại thị trấn Sông Cầu - Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Yêu cầu - Xác định ảnh hƣởng của liều lƣợng phân Nông lâm 16 đến một số chỉ tiêu sinh trƣởng của cây chè. - Xác liều lƣợng của phân Nông lâm 16 đến năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế của cây chè. - Xác định ảnh hƣởng của phân Nông lâm 16 đến mức độ biểu hiện sâu bệnh hại ở cây chè.
Ý nghĩa khoa và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Là mô hình trực quan chứng minh cho ngƣời dân, trực tiếp là những ngƣời trồng chè thấy đƣợc sự hơn hẳn của việc bón phân hữu cơ Nông Lâm 16 so với việc bón lệch các loại phân bón vô cơ mà chủ yếu là phân NPK. Để ngƣời dân địa phƣơng đối chiếu so sánh và đầu tƣ nhân rộng. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học nghiên cứu về phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 cho cây chè đặc sản Đồng Hỷ-Thái Nguyên, tác động của phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 tới năng suất, chất lƣợng búp chè.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả nghiên cứu phân bón hữu cơ sinh học Nông lâm 16 góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng quy trình bón phân cân đối cho giống chè. n 4 - Các kết quả nghiên cứu phân bón hữu cơ sinh học Nông Lâm 16 đã đƣợc áp dụng hiệu quả trên giống chè đặc sản tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên. - Cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất chè đặc sản tại Đồng Hỷ - Thái Nguyên theo hƣớng sạch, an toàn. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của bón phân cho chè Cơ sở khoa học của việc bón phân cho chè gồm những điểm chính sau: Cây chè có khả năng liên tục hút chất dinh dƣỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng nhƣ trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó. Mặc dù trong điều kiện khí hậu mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trƣởng nhƣng vẫn yêu cầu lƣợng dinh dƣỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dƣỡng cho cây cần đầy đủ và thƣờng xuyên trong năm. Đối tƣợng thu hoạch chè là búp và lá non. Mỗi năm thu hoạch tù 5 - 10 tấn/ha, vì thế lƣợng dinh dƣỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp thời cho đất thì cây trông sẽ sinh trƣởng kém và cho năng suất thấp.
Khả năng thích ứng với điều kiện dinh dƣỡng của cây chè rất rộng rãi. Nó có thể sống ở nơi đất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống ở những nơi đất nghèo dinh dƣỡng và vẫn cho năng suất nhất định. Do đặc điểm đó, muốn nâng cao năng suất chè cần phải bón phân đầy đủ. Chè là cây công nghiệp lâu năm, sản phẩm thu hoạch là búp và lá non, đồng thời đó cũng là cơ quan đồng hóa tích lũy dinh dƣỡng cho cây.
Hàng năm, cây chè cho thu hái búp từ 5 -6 đợt trong điều kiện bình thƣờng. Nếu thâm canh cao thì có thể thu hát từ 7 - 8 đợt. Thời gian hoàn thành đợt sinh trƣởng búp phụ thuộc vào giống, chế độ dinh dƣỡng và điều kiện khí hậu. Ở giai đoạn ẩn búp chè sinh trƣởng chậm hơn ở giai đoạn hiện, ở giai đoạn tiềm sinh cành ngừng sinh trƣởng tích lũy dinh dƣỡng cho mầm phát động.
Do đó, nếu có biện pháp cung cấp dinh dƣỡng kịp thới sẽ rút ngắn đƣợc n 6 thời gian ở giai đoạn tiềm sinh đồng thời cung cấp chất dinh dƣỡng cho giai đoạn sau. Từ những dữ liệu trên ta thấy, bón phân cho chè là một biện pháp kỹ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sinh trƣởng của cây chè để tăng năng suất và chất lƣợng chè. Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ, giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết. Nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ tác động đến năng suất và chất lƣợng sản phẩm mà còn cải thiện môi trƣờng, cải thiện độ phì cho đất hƣớng đến một nền nông nghiệp bền vững.
Nguồn gốc, phân loại, sự phân bố cây chè 2. Nguồn gốc cây chè Năm 1753, Carl Von Linnaeus, nhà thực vật học Thụy Điển nổi tiếng, lần đầu tiên trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu trên một số loại chè cổ ở Trung Quốc và định tên khoa học cây chè là Thea Sinensis rồi phân thành 2 loại: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh). Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trƣớc đây cho rằng: Nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam - Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ƣớt và ấm. Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà các nhà khoa học Trung Quốc nhƣ Schenpen, Jaiding,.
đã giải thích sự phân bố chè của cây chè mẹ ở Trung Quốc nhƣ sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu hàng loạt con sông lớn đổ về các con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Đầu tiên cây chè mọc ở Vân Nam sau đó hạt chè di chuyển trôi theo dòng nƣớc đến các vùng nói trên và lan sang các vùng khác. Cũng theo Daraselia, dựa trên cơ sở học thuyết “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, phân bố ở khu vực Đông Nam, men theo cao nguyên Tây Tạng (Lê Tất Khƣơng và cs, 1999) [7]. Năm 1823, Robert Bruce, một học giả ngƣời Anh, lần đầu tiên phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya ở vùng Atxam (Ấn Độ) n 7 cao tới 17 đến 20m, thuộc loài thân gỗ lớn, khác hẳn cây chè thân bụi của Linaeus thu thập ở vùng Trung Quốc nói trên.
Tiếp sau đó các nhà học giả Anh nhƣ Samuel Bildon (1878), John H.Brown và 5 Ibbetson (1912) cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Atxam chứ không phải ở Vân Nam - Trung Quốc (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [8]. Năm 1918, Cohen Stuart (Java), một nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đi thu thập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Mianma. Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam.