MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi. Chúng có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện của vùng đất dốc, đem lại nguồn thu nhập quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và dần tiến tới làm giầu cho người sản xuất chè, không những thế cây chè còn có vai tò to lớn trong việc che phủ đất trống, đồi núi trọc và là cây có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai bảo vệ môi trường sinh thái giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền núi. Ở Việt Nam cây chè có vị trí quan trọng đối với vùng trung du miền núi, một số tỉnh vùng trung du miền núi phía bắc đã coi cây chè là cây kinh tế mũi nhọn.
đã từ lâu cây chè được mọi người biết đến với nhiều giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng. Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống. Nước chè có tác dụng bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn. Ngày nay nước chè tươi còn được mọi người biết đến với công dụng chống lão hóa làm đẹp cho làn da.
Cây chè cho năng xuất, sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế. Vùng chuyên canh cây chè, có trình độ thâm canh cao đòi hỏi năng xuất lớn thì lượng phân bón cần thiết hàng năm rất nhiều. Chính vì vậy, việc sử 2 dụng phân bón hữu cơ cho chè là rất cần thiết, đặc biệt là phân hữu cơ vi sinh. Phân hữu cơ vi sinh không chỉ cung cấp nguồn dinh dưỡng thiết thực cho cây chè mà còn có tác dụng tăng hiệu quả của sử dụng phân bón vô cơ, khắc phục được sự mất cân đối dinh dưỡng trong đất và góp phần vào bảo vệ môi trường.
Để từng bước thay đổi quan niệm trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng bằng con đường hữu cơ vi sinh, giảm dần và tiến tới thoát ly sự phụ thuộc vào phân hóa học để hướng tới một nền nông nghiệp bền vững. Việc bón phân hữu cơ vi sinh là rất cần thiết. Chính vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ sinh học đến sinh trưởng giống chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên” 1. Mục đích nghiên cứu của đề tài Xác định được lượng phân hữu cơ sinh học thích hợp bón cho cây chè Kim Tuyên thời kỳ kiến thiết cơ bản tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 1.
Yêu cầu của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm hình thái cây chè Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến đặc điểm sinh trưởng cây chè Đánh giá được tình hình sâu hại chính 1. Ý nghĩa của đề tài Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học và làm quen dần với công việc thực tế. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình điều tra nghiên cứu. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học Bón phân cho chè kiến thiết cơ bản là biện pháp kĩ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây chè để cây nhanh cho thu hoạch. việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ song phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì thực tiễn trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn, các giải pháp kỹ thuật chưa bộc lộ hết hiệu quả. Sử dụng phân hữu cơ và giảm lượng phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ tác động đến sinh trưởng và phát triển của cây mà còn cải thiện môi trường sinh thái, cải thiện độ phì cho đất hướng tới một nền nông nghiệp bền vững. Qua đây cho thấy nhu cầu dinh dưỡng khoáng của cây chè là rất lớn.
Cây chè liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó. Về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm. Khi xây dựng quy trình bón phân cho chè cần căn cứ vào điều kiện đất đai, khí hậu, đặc điểm sinh lí của cây và khả năng hấp thu chất khoáng của cây. Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như cả đời sống của nó, về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm.
Trong búp non của chè có 4,5%N,1,5%P2O5 và 1,2-2,5%K2O (Eden1958). Bón phân cho chè 4 kiến thiết cơ bản là biện pháp kĩ thuật quan trọng nhằm thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của cây chè để tăng năng suất và chất lượng chè. Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất. Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống.
Đối tượng thu hoạch chè là búp và lá non. Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha, vì thế, lượng dinh dưỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trưởng kém và cho năng suất thấp. Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P 2O5 và 1,2 - 2,5% K2O. Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất.
Chè cần nhiều đạm nhất sau đó đến lân và kali, Theo IFA World fertilizer use manual 1992 thì dinh dưỡng tạo ra 100 kg chè thương phẩm như bảng sau: Dinh dƣỡng Dinh dƣỡng Đạm (N) 19,6 kg Natri (Na) 74 g Lân (P2O5) 5,68 kg Sắt (Fe) 241 g Kali (K2O) 8,8 kg Mangan (Mn) 479 g Magiê (MgO) 2,92 kg Kẽm (Zn) 38 g Canxi (CaO) 6,70 kg Đồng (Cu) 38 g Nhôm (Al) 871 g Bo (Bo) 26 g 5 Từ những tài liệu trên, cho thấy rằng cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn. Từ những tài liệu trên, cho thấy rằng cây chè có những đặc điểm dinh dưỡng khác với một số cây trồng khác, nhu cầu về dinh dưỡng khoáng của cây chè rất lớn. Vai trò của phân hữu cơ đối với chè: Đối với chè, phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như: làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh học trong đất, làm tăng các thành phần trong đất: N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất. Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ, song cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho năng xuất nhất định .Tuy nhiên muốn nương chè cho năng xuất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải bón đầy đủ.
Bên cạnh phân hữu cơ thì phân NPK cũng có vai trò quan trọng tới sự phát của cây chè giai đoạn kiến thiết cơ bản: Phân đạm: Trong chè tập trung chủ yếu ở các bộ phận còn non như búp và lá non. N tham gia vào sự hình thành các a.amin và proten, bón đủ N cho chè, lá chè có màu xanh, cây quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp và búp to. Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp. Tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: N làm tăng năng suất từ 2-2.5 lần so với đối chứng không bón Theo L.Bziava(1973) liều lượng N tăng sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt năng suất 10 tấn/ha bón 200kg N là hiệu quả nhất.
6 Về chất lượng: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc đơn độc ) làm giảm chất lượng chè đặc biệt là sản xuất chè đen. Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm (Đỗ Ngọc Qũy- Trồng chè - NXB Nông nghiệp, 1980) làm protein tăng, protein sẽ kết hợp với tanin thành hợp chất không tan vì thế lượng tanin lại càng bị giảm. Hơn nữa bón quá nhiều đạm làm cho hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng. Những nghiên cứu của C.M Gabanli về ảnh hưởng của phân đạm tới chất lượng chè cho thấy: Nếu bón N quá nhiều sẽ làm giảm lượng các chất hòa tan và tanin đồng thời làm tăng đáng kể lượng N không hòa tan và cafein.
Theo tài liệu của Trung Quốc: Nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha cần phải cung cấp N = 37,5KG, P2O5 = 75kg, K2O = 112 - 150kg. Phân lân: Có trong búp non của chè. Búp non của chè có 1,5% P2O5 (Eden,1958) Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lương cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè ( cả chè nguyên liệu và chè giống ), làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè. Thiếu lân lá chè xanh thẫm có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ năng suất thấp.
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các bộ phận đang sinh trưởng nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm khả năng hoạt động của các men, làm tăng sự tích lũy gluxit và a.