ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt đời sống của con người và mọi loài động thực vật trên trái đất. Có thể khẳng định rằng nước là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được của sự sống, nó liên quan đến mọi vấn đề của đời sống xã hội. Tuy nhiên nguồn nước sạch quý báu đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loài sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt.
Chính vì thế nước sạch đang là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia, khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, “hơn 1 tỉ người trên thế giới không có nước sạch, khoảng 2,5 tỉ không có nhà vệ sinh và mỗi năm hơn 2 triệu người chết vì thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh”. [1, tr24] Do tác động của quá trình phát triển với nhu cầu ngày càng tăng của con người về nước sinh hoạt và sản xuất, nguồn tài nguyên nước đang bị khai thác tới mức dần cạn kiệt. Chính vì vậy vấn đề quản lý trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp bách.
Nếu việc quản lý khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước không hợp lý sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, gây những tác động xấu không chỉ cho hiện tại mà cả tương lai sau này. Ở nước ta, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng. Nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trong những năm qua Đảng và nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản về chủ trương, định hướng, đề ra các mục tiêu cần đạt được đối với công tác này như: Nghị quyết Trung ương VIII, IX; Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Theo thông báo của Trung tâm Quốc gia NS&VSMTNT, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng tính đến cuối năm 1998, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh vẫn còn thấp (chỉ khoảng 32%) [5, tr19] , “mức tăng trưởng trung bình hàng năm chỉ đạt chưa đến 1% trong suốt thời kỳ từ 1980 – 1997” [5, tr20]. Nhiều vùng nông thôn còn rất khó khăn về nước uống và nước sinh hoạt, tình trạng vệ sinh ở các làng xã trên địa bàn nông thôn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là tập quán của người dân và các hành vi vệ sinh cá nhân chậm thay đổi đã ảnh hưởng xấu đến môi trường và sự phát triển bền vững ở nông thôn.
Tình trạng này là nguyên nhân chính làm cho tỉ lệ dân cư nông thôn mắc các bệnh, dịch là rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến không chỉ sức khoẻ của nhân dân mà còn có tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội, của công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự phát triển chung của toàn xã hội. Nhìn chung vấn đề nước sinh hoạt ẩn chứa nhiều tồn tại dù rằng những năm trở lại đây Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã và đang được Chính phủ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư mạnh mẽ. Thông qua đó đã có hàng loạt các dự án, chương trình nhằm nâng cao năng lực cho chương trình nước sinh hoạt nhất là cơ sợ hạ tầng và dịch vụ. Thế nhưng cơ chế và công tác quản lý còn thiếu đồng bộ ẩn chứa nhiều bất cập, hạn chế, làm giảm tác dụng của các chương trình, dự án.
Thực tế cho thấy công tác quản lý nước sinh hoạt ở nước ta hiện nay còn nhiều thách thức cho dù đã có nhiều tiến bộ. Mặc dù trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Quốc gia đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp nước tự chảy”, tuy nhiên nó chưa đáp ứng được những yêu cầu vô cùng phong phú của thực tiễn về công tác quản lý; nhiều vùng, miền, địa phương đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô hình quản lý phù hợp với điều kiện đặc thù của mình. Không nằm ngoài tình hình chung nêu trên, tỉnh Hoà Bình nói chung, huyện Lạc Thuỷ nói riêng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nước sinh hoạt nông thôn. Nhiều công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn được đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 xây dựng với nguồn vốn hàng tỷ đồng nhưng hiều quả sử dụng lại rất thấp.
Có những công trình sau khi xây dựng, bàn giao đưa vào sử dụng lại thiếu nước hoặc không có nước; có công trình giai đoạn đầu hoạt động rất hiệu quả song trong quá trình quản lý còn nhiều bất cập, cộng với sự thiếu ý thức trong sử dụng và bảo vệ công trình dẫn đến xuống cấp, không thể sử dụng được. Trên cơ sơ tồn tại những vấn đề đã nêu trên ở trên, nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý nước sinh hoạt nông thôn, xây dựng một góc nhìn tổng quan về công tác quản lý nước sinh hoạt nông thôn và đề xuất một số mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, Tỉnh Hoà Bình, tôi đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình” 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng về mô hình quản lý nước sạch sinh hoạt nông thôn, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình.
Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nước sinh hoạt nông thôn; Phân tích thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động các mô hình này trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc, nội dung, phương thức hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thuỷ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phạm vi nghiên cứu 3. Phạm vi không gian Đề tài được thực hiện trong phạm vị huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. Phạm vi thời gian Thời gian thực hiện đề tài từ 1/6/2012 đến 30/9/2012 3.
Phạm vi nội dung Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mô hình quản lý, quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm 1. Mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, mô hình được hiểu: - Nghĩa hẹp “là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt” [11, tr.
- Nghĩa rộng “là hình ảnh (hiện tượng, sơ đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng). Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học”…[11, tr.249] Trong kinh tế học, “mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực tế trong thiên nhiên, xã hội” …[11, tr. Như vậy, mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn có thể hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả…) mang tính chất quy ước của một hệ thống quản lý nước sinh hoạt nông thôn cụ thể trong thực tiễn. Quản lý nước sinh hoạt nông thôn “Quản lý nước sinh hoạt nông thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phân phối các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức nhằm nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về sử dụng nước.
Giảm thiểu các tác động xấu do điều kiện cấp nước sinh hoạt kém gây ra đối với sức khoẻ của người dân nông thôn, góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường” [14, tr.59] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nước sinh hoạt nông thôn “Nước sinh hoạt là nước dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người” [14, tr.19] Như vậy có thể hiểu nước sinh hoạt nông thôn như sau: - Nước sinh hoạt được cấp ở vùng nông thôn. - “Nước được cung cấp tại khu vực nông thôn đã qua sử lý, sau hệ thống phân phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt nông thôn” [14, tr.23] - “Nước cung cấp cho sinh hoạt tại vùng nông thôn nêu trên bao gồm cả nước cấp cho những vùng nông thôn thuần tuý và các đô thị loại nhỏ (loại V) với dân số không quá 30.000 người” [14, tr. Quan điểm và vai trò quản lý nước sinh hoạt nông thôn 1.
Quan điểm quản lý nước sinh hoạt nông thôn Quản lý nước sinh hoạt nông thôn phải mang tính hệ thống, xuất phát từ nhu cầu của người sử dụng nước, theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá trong công tác đầu tư xây dựng và quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn nhằm phát huy tối đa nội lực của dân cư nông thôn. Đồng thời tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực nước sinh hoạt nông thôn, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt. Người sử dụng nước phải được tham gia, quyết định mô hình cấp nước sinh hoạt và tổ chức thực hiện quản lý mô hình phù hợp với khả năng về tài chính, trình độ quản lý của họ.