ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm gần đây, tình hình thảm họa trên thế giới và Việt Nam diễn biến rất phức tạp, chứa đựng nhiều yếu tố khó lƣờng. Trên thế giới trung bình cứ một tuần xảy ra một thảm họa lớn, cƣớp đi sinh mạng của hàng chục nghìn ngƣời, hủy hoại nhiều cơ sở vật chất và các công trình kiến trúc có giá trị của nhân loại, gây hậu quả nghiêm trọng môi trƣờng sinh thái, ảnh hƣởng trực tiếp đời sống của hàng tỷ ngƣời [52], [78]. Thực tế cho thấy thảm họa xảy ra hết sức đột ngột không hề báo trƣớc, số lƣợng các nạn nhân cần đƣợc cứu chữa, vận chuyển luôn vƣợt quá khả năng đáp ứng của ngành y tế. Bên cạnh đó chính bản thân các cơ sở y tế trong khu vực thảm họa cũng bị thiệt hại nặng nề cả về con ngƣời cũng nhƣ cơ sở vật chất [59], [69].
Để hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất do thảm họa gây ra, cần có sự phối hợp hành động của nhiều lực lƣợng và phƣơng tiện trong đó ngành y tế có vai trò quan trọng [2], [32]. Khi thảm họa xảy ra toàn bộ ngành y tế không phân biệt quân y hay dân y đều phải tổ chức thu dung, cứu chữa các nạn nhân. Việc tổ chức cứu chữa có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành y tế trên tất cả các tuyến [20], [71], [74]. Tuyến bệnh viện nhất là các bệnh viện đóng ở nơi dân cƣ đông đúc, khi thảm họa xảy ra sẽ có rất nhiều nạn nhân cần thu dung, cứu chữa trong cùng một thời điểm và trong điều kiện hoàn toàn không thuận lợi.
Vì vậy, các bệnh viện cần có kế hoạch cụ thể, thƣờng xuyên huấn luyện theo các tình huống khác nhau, bảo đảm sẵn sàng đáp ứng y tế trong các tình huống khẩn cấp [10], [11], [16]. Trong thời gian qua, công tác kết hợp quân dân y đã đƣợc triển khai đều khắp trên cả nƣớc, với nhiều nội dung phong phú đã góp phần nâng cao chất lƣợng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân và bộ đội. Tuy nhiên, 7 việc phối kết hợp trong việc thu dung, cứu chữa nạn nhân, khắc phục hậu quả do thảm họa còn bộc lộ nhiều bất cập, nhất là ở tuyến quân khu nhƣ: đáp ứng y tế trong tình huống khẩn cấp còn chậm, thu dung phân loại nạn nhân còn lúng túng về tổ chức và chƣa thuần thục về chuyên môn, công tác chỉ huy và điều hành còn nhiều hạn chế, chƣa huy động đƣợc sức mạnh tổng hợp để đáp ứng với tình huống khẩn cấp về y tế nên hiệu quả chƣa cao [18], [77]. Đã có một số đề tài nghiên cứu về mô hình và đã thực hiện diễn tập về tổ chức thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt do thảm họa của các bệnh viện tuyến cuối quân đội.
Tuy nhiên do quy mô và nhiệm vụ của các bệnh viện này có những khác biệt với bệnh viện tuyến cuối quân khu nên không thể áp dụng chung một mô hình [5], [28]. Bệnh viện tuyến cuối quân khu là bệnh viện đa khoa có chuyên khoa (loại B), đóng quân trên một địa bàn chiến lƣợc của quốc gia, làm nhiệm vụ thu dung điều trị cho bộ đội và nhân dân trong khu vực. Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đáp ứng y tế khẩn cấp khi có thảm họa xảy ra trong khu vực. Tuy nhiên cho đến nay, do chƣa có mô hình thống nhất nên công tác thu dung, cứu chữa nạn nhân do thảm họa của bệnh viện tuyến cuối quân khu còn nhiều hạn chế.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt của các bệnh viện tuyến cuối quân khu giai đoạn 2007-2012. Xây dựng mô hình, triển khai diễn tập thực nghiệm và đánh giá kết quả mô hình tổ chức thu dung, cứu chữa nạn nhân hàng loạt do thảm họa tại Bệnh viện 4, Quân khu 4, năm 2012 – 2013. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.
TÌNH HÌNH THẢM HỌA VÀ THIỆT HẠI DO THẢM HỌA TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm về thảm họa 1. Theo quan niệm của thế giới Hiện nay trên thế giới ngƣời ta hiểu thuật ngữ thảm họa là để chỉ một số lƣợng lớn nạn nhân đƣợc tạo nên do một hiện tƣợng hoặc một loạt sự kiện xảy ra liên tiếp trong cùng một khoảng thời gian, và đã có một số định nghĩa về thảm họa nhƣ sau: Năm 1881, Littre đƣa ra khái niệm đầu tiên: "Thảm họa là một bất hạnh lớn nó tàn phá tận cùng có tính đáng thương". Năm 1983 Ủy ban Châu Âu nghiên cứu về thảm họa họp ở Brigroles đã đề xuất: “Thảm họa là một biến cố phá hủy gây nên tổn thương trầm trọng cho nhân dân, môi trường, kéo theo sự thay đổi nhu cầu và phương tiện” [98].
Quan niệm của Vƣơng Quốc Bỉ: “Thảm họa là vụ việc vượt quá khả năng giải quyết của một cộng đồng, gây nên sự mất cân bằng đột xuất và ồ ạt về số lượng và chất lượng giữa nhu cầu tức thì, đột ngột về các nguồn lực cơ sở vật chất, trang thiết bị sẵn có. Về y tế cần phải đáp ứng y tế khẩn cấp khi có tình trạng 5 nạn nhân nặng và nhiều người bị thương nhẹ hoặc 10 nạn nhân có bệnh lý không xác định hoặc hơn 10 người trong tình trạng nguy hiểm” [79], [99]. Theo Tổ chức y tế thế giới: “Thảm họa là các hiện tượng gây ra các thiệt hại, các đảo lộn về kinh tế, các tổn thất về sinh mạng, sức khỏe con 9 người, các hư hại đến cơ sở y tế với một mức độ lớn, đòi hỏi sự huy động cứu trợ đặc biệt từ ngoài đến vùng thảm họa” [37], [108], [129]. Theo quan niệm của Việt Nam Ngày 4 tháng 3 năm 1994 Liên Bộ Y tế - Quốc phòng đƣa ra khái niệm: "Thảm họa là những rủi ro hoặc biến cố bất ngờ xảy ra, gây nên những tổn thất lớn về người và của cải vật chất”.
Theo Lê Thế Trung: “ Về y tế các thảm họa thường gây ảnh hưởng lớn đến con người như tổn thất về sinh mạng, bị thương, bị bệnh, bị nhiễm độc gây nhiễm trùng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống người dân vùng bị nạn đòi hỏi sự đáp ứng y tế khẩn cấp và sự cứu trợ đặc biệt từ các nơi khác đến vùng thảm họa” [50]. Phân loại thảm họa 1. Trên thế giới * Theo Tổ chức y tế thế giới chia làm 4 nhóm [84], [88], [130]: - Nhóm khí tƣợng: bão, lũ lụt, gió xoáy, dông lốc, vòi rồng. - Nhóm do biến đổi địa hình: động đất, khối dịch chuyển, sạt lở đất.
- Nhóm do kiến tạo: núi lửa phun, nham thạch. - Nhóm sự cố kỹ thuật: đổ sập các hầm lò, công trình, cầu cống,. * Theo y học Pháp [99], [129]: - Phân loại theo các yếu tố tự nhiên: sóng thần, bão lốc, tuyết lở, lũ lụt. - Kinh tế - xã hội: dịch bệnh, nạn đói.
- Công nghệ khoa học: hóa chất, khí độc, nƣớc, than, dầu, hạt nhân. - Thảm họa do xung đột vũ trang: khủng bố, chiến tranh,. - Phân loại theo số lƣợng nạn nhân + Mức độ nhỏ: từ 25 đến 100 nạn nhân + Mức độ trung bình: từ 101 đến 1000 nạn nhân + Mức độ lớn có trên 1000 nạn nhân hoặc 250 ngƣời trở lên phải vào bệnh viện điều trị. 10 - Phân loại theo thời gian: + Ngắn dƣới 1 giờ: động đất, nổ, tai nạn giao thông.
+ Trung bình từ 1 đến 24 giờ: cháy, sóng thần… + Thời gian dài trên 24 giờ: bão lụt, xung đột vũ trang, chiến tranh… * Phân loại theo quan niệm của Y học Vương Quốc Bỉ [79]: Các cấp độ của thảm họa đƣợc phân chia theo khu vực địa giới. Công tác đáp ứng với thảm họa do xã trƣởng điều hành. - Cấp Tỉnh (vùng): thảm họa xảy ra tổn thất trong một tỉnh hoặc một vùng, công tác đáp ứng thảm họa do Tỉnh trƣởng chỉ huy điều hành. - Cấp Liên bang: thảm họa gây ra tổn thất ở nhiều tỉnh hoặc nhiều bang, công tác đáp ứng với thảm họa lúc này do Bộ Nội vụ điều hành.
Tại Việt Nam Việt Nam phân loại thảm họa về cơ bản giống với cách phân loại của các nƣớc trên thế giới và đƣợc chia làm hai loại lớn đó là: * Thảm họa do thiên nhiên: bão, lũ lụt, giông lốc, động đất. * Thảm họa do con người gây ra bao gồm [34], [61], [76], [62]: - Các tai nạn giao thông: đƣờng bộ, đƣờng không, đƣờng thủy. - Các tai nạn trong công nghiệp: cháy nổ, rò rỉ phóng xạ. - Các tai nạn trong xây dựng kiến trúc: sập đổ nhà cửa, hầm lò.
- Thảm họa do kinh tế - chính trị - xã hội: nạn đói, chiến tranh. - Thảm họa do dịch bệnh: dịch hạch, cúm, sởi, sốt xuất huyết. - Thảm họa do phá hoại môi trƣờng: hạn hán, lũ lụt. Để phù hợp với công tác ứng cứu và đáp ứng y tế khẩn cấp đối với thảm họa.
Ở Việt Nam, phân loại thảm họa dựa vào các yếu tố sau: - Dựa vào số ngƣời bị tác động trực tiếp của thảm họa. + Mức 1: Từ 30 - 100 nạn nhân, hoặc 20 - 50 ngƣời phải nằm viện. + Mức 2: Từ 101 - 500 nạn nhân, hoặc 51 - 200 ngƣời phải nằm viện. 11 + Mức 3: Từ 501 - 2000 nạn nhân, hoặc 201 - 300 ngƣời phải nằm viện.
+ Mức 4: Có trên 2000 nạn nhân, hoặc có trên 300 ngƣời phải nằm viện. - Phân loại theo yêu cầu can thiệp của y tế: + Thảm họa gây tổn thất ngay tức thì: giao thông, động đất, khủng bố. + Thảm họa gây ra những hậu quả kéo dài về sau: lũ lụt, dịch bệnh. + Thảm họa vừa gây tổn thất ngay tức thì vừa gây hậu quả lâu dài về sau: các trận bão lớn, lũ lụt lớn trên diện rộng, các dịch bệnh.
- Ngoài ra còn phân loại thảm họa theo thời gian: dài, ngắn, cấp tính, mạn tính; Phân loại theo địa dƣ, vùng lãnh thổ, địa lý, dân cƣ. Tình hình thảm họa trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình thảm họa trên thế giới * Thảm họa do thiên nhiên: Bảng 1.1: Số vụ thảm họa do thiên nhiên trên thế giới từ 2002 - 2011 Năm Cộng 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 Loại TH Hạn hán 40 23 19 28 20 13 21 31 17 15 237 Động đất 37 40 42 25 24 21 23 22 25 30 289 Nắng nóng 15 26 19 29 32 25 11 26 34 18 235 Lũ lụt 173 160 135 193 232 219 175 159 189 158 1.