Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Văn hóa Du lịch của tác giả Nguyễn Thị Huệ (lớp VHL 301, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, năm 2011, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Bính) tập trung nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động của các câu lạc bộ tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp gắn với định hướng phát triển văn hóa du lịch.
Về bối cảnh thực tiễn, Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp được khởi công ngày 16 tháng 2 năm 1986 và chính thức khánh thành, đi vào hoạt động từ ngày 17 tháng 12 năm 1989. Đây là công trình do Hội đồng Trung ương các Công đoàn Tiệp Khắc (cũ) trao tặng cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động thành phố Hải Phòng. Trong hơn 20 năm vận hành theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu ("lấy kinh tế để phát triển văn hóa"), Cung văn hóa vừa phải hoàn thành các nhiệm vụ chính trị do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng giao phó, vừa phải tự cân đối thu chi, bảo dưỡng cơ sở vật chất và duy trì hệ thống các câu lạc bộ (CLB) sở thích. Tuy nhiên, việc phát huy tiềm năng liên kết giữa các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ với hoạt động văn hóa du lịch tại đơn vị vẫn còn những điểm hạn chế, chưa khai thác hết các thế mạnh đặc thù của thành phố cảng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung cụ thể:
- Lập kế hoạch cho việc phát triển các câu lạc bộ gắn với nhiều hoạt động văn hóa du lịch.
- Khảo sát, đánh giá hoạt động văn hóa du lịch của Cung văn hóa trong những năm qua và đề ra những chiến lược phát triển trong thời gian tới.
- Nghiên cứu tổ chức các mô hình mới đạt hiệu quả thiết thực nhằm phát triển Cung văn hóa lớn mạnh hơn, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động tham gia.
- Nghiên cứu khả năng mở rộng hoạt động của các câu lạc bộ cũng như các chương trình văn hóa du lịch ở nhiều tuyến cơ sở dưới sự quản lý của Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình tổ chức hoạt động của các câu lạc bộ hỗ trợ phát triển du lịch tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp.
- Không gian nghiên cứu: Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp và một số địa điểm trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai thu thập tài liệu và thực hiện từ ngày 10 tháng 4 năm 2011 đến ngày 26 tháng 6 năm 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành văn hóa học, xã hội học và du lịch học:
- Lý thuyết về Cung văn hóa và Câu lạc bộ: Tác giả sử dụng quan điểm của V.I. Lênin về vai trò làm chủ của quần chúng lao động đối với thiết chế câu lạc bộ và định nghĩa của N.K. Krupskaya về Cung văn hóa ("nơi chứa đựng những giá trị tinh thần của địa phương, là dấu tích một bước văn minh của địa phương đó..."). Hệ thống câu lạc bộ được phân định thành 3 dạng chính: CLB chức năng (nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, giáo dục, giải trí), CLB ngành nghề (giáo chức, giao tiếp tiếng Anh, tuyên giáo, học sinh - sinh viên, kinh doanh) và CLB sở thích (thư pháp, thể thao, thơ, văn hóa du lịch...).
- Khái niệm và mối quan hệ giữa Văn hóa và Du lịch: Tiếp cận định nghĩa văn hóa của Edward Tylor (1871), UNESCO (2002), PGS.VS Trần Ngọc Thêm, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Edouard Herriot, cũng như khái niệm của Findley và Rothney (2006). Khái niệm du lịch được trích dẫn theo định nghĩa chuẩn của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO). Mối quan hệ tương hỗ giữa văn hóa và du lịch được phân tích theo quan điểm của Nguyễn Khắc Viện ("du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người").
- Quy chuẩn điều lệ câu lạc bộ: Khóa luận trích xuất khung quy chế hoạt động mẫu gồm 10 điều chuẩn hóa về tôn chỉ mục đích, nhiệm vụ, quyền lợi hội viên, tổ chức bộ máy, nguyên tắc tài chính và khen thưởng - kỷ luật áp dụng trong các thiết chế văn hóa công đoàn.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp liên ngành: Vận dụng tri thức của văn hóa học, xã hội học và câu lạc bộ học để phân tích cấu trúc hoạt động.
- Phương pháp thực tiễn: Khảo sát thực địa, thu thập số liệu hành chính, phân tích - tổng hợp và đánh giá thực trạng hoạt động của các câu lạc bộ gắn với văn hóa du lịch tại đơn vị.
Nguồn dữ liệu của đề tài được cung cấp trực tiếp từ Ban Giám đốc Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp (đặc biệt là Giám đốc Trịnh Phúc Tuệ và cán bộ Phòng Nghiệp vụ Văn hóa Thể thao) cùng các báo cáo chuyên môn của Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về Câu Lạc Bộ và Cung văn hóa
Chương này tập trung trình bày nguồn gốc lịch sử và bản chất lý luận của thiết chế cung văn hóa, câu lạc bộ, cùng mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch:
- Lịch sử phát triển: Khái niệm Cung văn hóa xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 tại châu Âu phục vụ tầng lớp quý tộc, sau đó mở rộng sang các giai tầng thương nhân, quan chức, và trở thành thiết chế sinh hoạt của quần chúng sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1920). Tại Việt Nam, mầm mống sơ khai bắt đầu từ năm 1866 khi sĩ quan Pháp chiếm dụng đất lập khu thể thao, bắn súng, đua ngựa; sau này phát triển thành mạng lưới nhà văn hóa, cung văn hóa rộng khắp như Cung VH Lao động Hữu nghị Việt Tiệp, Cung VH Lao động Hữu nghị Việt Xô, Cung VH Lao động TP. Hồ Chí Minh, Cung VH Thiếu nhi...
- Phân loại câu lạc bộ: Phân tích chi tiết 3 loại hình câu lạc bộ (chức năng, ngành nghề, sở thích) và đưa ra mẫu Điều lệ gồm 10 điều quy định cụ thể về nguyên tắc tổ chức (Đại hội 2-3 năm/lần), tự chủ tài chính xã hội hóa và trách nhiệm hội viên.
- Mối quan hệ Văn hóa - Du lịch: Tổng hợp 14 loại hình du lịch hiện hành tại Việt Nam (du lịch lễ hội, phố cổ, nghỉ dưỡng - chữa bệnh, MICE, du lịch hoa, du lịch bụi, du lịch cuối tuần, tuần trăng mật, mua sắm, ẩm thực, mạo hiểm, thể thao, văn hóa, nghỉ dưỡng sinh thái).
- Hoạt động văn hóa du lịch trong các CLB sở thích: Đánh giá hoạt động của các nhóm CLB đặc thù như CLB Xe đạp thể thao, CLB Thư pháp (với dấu ấn tác phẩm 1.000 chữ "Long" của nhà thư pháp Lê Thiên Lý theo các thể Triện, Lệ, Thảo, Hành, Nhân diện, Vật Điểu chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội), CLB Văn nghệ dân gian, CLB Văn hóa du lịch và sự kiện thành lập CLB Thơ ca Công đoàn ngày 6 tháng 5 năm 2011 quy tụ các tác giả như Nguyễn Văn Bính, Hoàng Thanh Tâm, Hoàng Khôi...
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các câu lạc bộ ở Cung Văn Hóa Lao động hữu nghị Việt Tiệp
Chương 2 phản ánh toàn diện hiện trạng tổ chức, cơ sở vật chất và kết quả vận hành của Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp:
- Cơ sở vật chất và mô hình quản lý: Đơn vị sở hữu khuôn viên rộng 4.000 m2 với 164 phòng lớn nhỏ, 1 hội trường lớn gần 1.000 chỗ ngồi và 1 hội trường nhỏ 450 chỗ ngồi. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc phụ trách 6 phòng chức năng: Phòng Văn hóa quần chúng, Phòng Bảo vệ - Kinh tế, Phòng Tài vụ, Phòng Kỹ thuật, Phòng Nghiệp vụ Văn hóa Thể thao, Phòng Hành chính tổ chức.
- Hệ thống câu lạc bộ: Cung văn hóa đã xây dựng và duy trì mạng lưới gồm 36 câu lạc bộ thu hút hơn 1.000 hội viên thường xuyên, được hỗ trợ bởi 120 cộng tác viên là chủ nhiệm CLB, huấn luyện viên, giáo viên chuyên trách. Kinh phí xã hội hóa huy động từ quần chúng để tổ chức hoạt động hàng năm đạt mức 200.000.000 đồng.
- Kết quả hoạt động nổi bật: Hằng năm tổ chức từ 80 đến hơn 100 sự kiện văn hóa, thể thao; phục vụ các hoạt động đối ngoại lớn (Những ngày văn hóa Séc tại Việt Nam, hòa nhạc Séc - Bỉ, giao lưu với Công hội Quảng Đông - Trung Quốc, thi đấu thể thao với Nga, Pháp, Hàn Quốc...); thực hiện công tác xã hội - từ thiện (phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Cổn tại Vĩnh Bảo, nuôi dưỡng 2 trẻ mồ côi tại Lạch Tray, đỡ đầu Làng trẻ SOS và Làng trẻ Hoa Phượng, đóng góp các quỹ ủng hộ với tổng số tiền 53 triệu đồng).
- Điểm sáng từ CLB Thơ: Hoạt động xuyên suốt 21 năm với hơn 100 lượt hội viên, xuất bản hàng chục tập thơ riêng và định kỳ ra tập san sáng tác. Đã có gần 30 hội viên được kết nạp vào Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng và 4 hội viên gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam; đạt các giải thưởng văn học như Giải Nhất tác phẩm Tuổi xanh Báo Tiền Phong (Đỗ Trí, Vũ Thu Huyền), Giải Nhất Giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vũ Thúy Hồng).
| Tiêu chí thống kê |
Số liệu / Chi tiết ghi nhận trong văn bản |
| Thời gian khởi công / Khánh thành |
16/02/1986 / 17/12/1989 |
| Quy mô diện tích & phòng chức năng |
4.000 m2; 164 phòng; Hội trường lớn ~1.000 chỗ; Hội trường nhỏ 450 chỗ |
| Cơ cấu phòng ban trực thuộc |
06 phòng: VH quần chúng, Bảo vệ - Kinh tế, Tài vụ, Kỹ thuật, Nghiệp vụ VHTT, Hành chính tổ chức |
| Hệ thống câu lạc bộ sinh hoạt |
36 CLB thuộc 2 khối (Thể dục thể thao và Văn hóa - Xã hội) |
| Quy mô hội viên & cộng tác viên |
>1.000 hội viên sinh hoạt thường xuyên; 120 cộng tác viên nòng cốt |
| Kinh phí xã hội hóa huy động/năm |
Lên tới 200.000.000 đồng |
| Khen thưởng cấp Nhà nước |
Huân chương Lao động hạng Ba (1997), Huân chương Lao động hạng Nhì (2001) |
Chương 3: Một số đề xuất nhằm gắn mô hình tổ chức hoạt động của Các câu lạc bộ Cung Văn Hóa với Văn hóa du lịch
Trên cơ sở phân tích thực trạng, chương 3 nêu các giải pháp và đề xuất mô hình cụ thể nhằm tăng cường sự gắn kết giữa Cung văn hóa và ngành Du lịch:
- Định hướng phát triển: Xây dựng Cung văn hóa thành "mái nhà chung" gắn kết hoạt động văn hóa du lịch; củng cố CLB Văn hóa du lịch làm hạt nhân tổ chức các chương trình tham quan chuyên đề (du lịch sinh thái, tâm linh, biển đảo, di tích lịch sử cách mạng).
- Đề xuất mô hình liên kết cho các câu lạc bộ mũi nhọn:
- Câu lạc bộ Thơ - Giao lưu văn hóa: Tổ chức các chuyến đi thực tế sáng tác gắn với các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử để quảng bá văn hóa địa phương qua tác phẩm văn học.
- Câu lạc bộ Thư pháp: Khai thác nghệ thuật viết chữ truyền thống và các thể chữ mới phục vụ khách du lịch tại các lễ hội, sự kiện văn hóa.
- Câu lạc bộ Xe đạp thể thao: Tổ chức các tour du lịch dã ngoại bằng xe đạp kết hợp rèn luyện thể chất và tìm hiểu di tích, thắng cảnh sinh thái.
- Câu lạc bộ Nhiếp ảnh: Sáng tác ảnh nghệ thuật về phong cảnh, con người Hải Phòng phục vụ công tác xúc tiến du lịch.
- Nhóm giải pháp tổ chức - nghiệp vụ: Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ theo đúng nghiệp vụ văn hóa du lịch; tuyển chọn và bồi dưỡng hội viên am hiểu văn hóa - lịch sử; đẩy mạnh các chương trình gameshow và giao lưu văn hóa du lịch để thu hút công chúng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về thiết chế Cung văn hóa và Câu lạc bộ trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chứng minh tính đúng đắn của mô hình tự chủ tài chính "lấy kinh tế để phát triển văn hóa" tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp.
- Phản ánh trung thực thực trạng vận hành của một thiết chế văn hóa công đoàn cấp tỉnh/thành phố với hệ thống dữ liệu chi tiết: quy mô 4.000 m2, 164 phòng, 36 câu lạc bộ, hơn 1.000 hội viên, 120 cộng tác viên, cùng các thành tích cụ thể (Huân chương Lao động hạng Ba năm 1997, hạng Nhì năm 2001, các giải thưởng văn học nghệ thuật).
- Làm rõ vai trò cầu nối của các câu lạc bộ sở thích (thơ ca, thư pháp, xe đạp thể thao, nhiếp ảnh) trong việc tạo nguồn cảm hứng, sản phẩm và phương tiện phục vụ hoạt động văn hóa du lịch.
Đề xuất và kiến nghị của tác giả
- Kiện toàn bộ máy tổ chức Cung văn hóa, đào tạo cán bộ nghiệp vụ có trình độ chuyên sâu về văn hóa du lịch.
- Chuẩn hóa quy trình thành lập câu lạc bộ, tuyển chọn và bồi dưỡng hội viên nòng cốt có kiến thức về văn hóa bản địa.
- Đổi mới hình thức sinh hoạt thông qua việc tổ chức các gameshow, chương trình giao lưu thơ nhạc, ngày hội văn hóa đối ngoại và các tour du lịch chuyên đề gắn với các mốc lịch sử, sự kiện chính trị.
Đóng góp của đề tài
Đề tài cung cấp một góc nhìn thực tiễn về việc ứng dụng lý thuyết câu lạc bộ học vào việc giải quyết bài toán tự chủ và đa dạng hóa hoạt động tại một cung văn hóa công đoàn cụ thể ở đô thị loại một, mở ra hướng liên kết giữa thiết chế văn hóa quần chúng với ngành kinh tế du lịch địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nghiên cứu chỉ ra khó khăn nội tại của đơn vị là số lượng cán bộ nghiệp vụ còn mỏng, trình độ chuyên môn chưa thực sự đồng đều giữa các bộ phận.
- Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn chủ yếu tại địa bàn thành phố Hải Phòng và tập trung vào một số câu lạc bộ sở thích tiêu biểu trong thời gian thực hiện ngắn (từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2011).
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khả năng liên kết và chuyển giao mô hình hoạt động câu lạc bộ văn hóa du lịch xuống các nhà văn hóa lao động tuyến quận, huyện và cơ sở công đoàn trực thuộc.
- Xây dựng quy trình phối hợp chi tiết hơn giữa Cung văn hóa với các doanh nghiệp lữ hành và cơ quan xúc tiến du lịch chuyên nghiệp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên ngành Văn hóa Du lịch, Quản lý Văn hóa: Cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp phân loại câu lạc bộ và khung điều lệ mẫu 10 điều chuẩn mực cho việc xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở.
- Cán bộ quản lý tại các Cung văn hóa, Nhà văn hóa Lao động: Tham khảo mô hình cơ cấu tổ chức 6 phòng ban, cơ chế quản trị "lấy kinh tế để phát triển văn hóa" tự cân đối thu chi, và phương thức phát triển mạng lưới cộng tác viên (120 người) để điều hành hơn 30 câu lạc bộ sở thích.
- Người nghiên cứu lịch sử văn hóa Hải Phòng: Nắm bắt tư liệu lịch sử về quá trình hình thành, cơ sở vật chất và các hoạt động tiêu biểu của Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp trong giai đoạn 1989–2011.
Câu hỏi thường gặp
1. Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp được thành lập từ nguồn gốc nào và khánh thành vào thời gian nào?
Cung văn hóa là công trình hữu nghị do Hội đồng Trung ương các Công đoàn Tiệp Khắc (cũ) trao tặng cho giai cấp công nhân Việt Nam, sau đó Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giao cho Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng quản lý. Công trình được khởi công ngày 16/02/1986 và chính thức khánh thành vào ngày 17/12/1989.
2. Quy mô cơ sở vật chất và cơ cấu tổ chức bộ máy của Cung văn hóa được văn bản ghi nhận ra sao?
Đơn vị có tổng diện tích 4.000 m2, gồm 164 phòng lớn nhỏ, 1 hội trường lớn gần 1.000 chỗ và 1 hội trường nhỏ 450 chỗ. Bộ máy gồm Ban Giám đốc phụ trách 6 phòng: Văn hóa quần chúng, Bảo vệ - Kinh tế, Tài vụ, Kỹ thuật, Nghiệp vụ Văn hóa Thể thao và Hành chính tổ chức.
3. Số lượng câu lạc bộ và lực lượng cộng tác viên tại Cung văn hóa là bao nhiêu?
Cung văn hóa duy trì hệ thống gồm 36 câu lạc bộ thuộc 2 khối (Thể dục thể thao và Văn hóa - Xã hội), thu hút hơn 1.000 hội viên sinh hoạt thường xuyên và có mạng lưới 120 cộng tác viên nòng cốt là các chủ nhiệm CLB, giáo viên, huấn luyện viên.
4. Câu lạc bộ Thơ tại Cung văn hóa đã đạt được những thành tích nổi bật nào trong 21 năm hoạt động?
CLB Thơ duy trì sinh hoạt định kỳ tối thứ Sáu tuần đầu tiên của tháng, có gần 30 hội viên gia nhập Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, 4 hội viên vào Hội Nhà văn Việt Nam, xuất bản hàng chục tập thơ riêng, định kỳ ra tập san sáng tác và đạt các giải thưởng văn học như Giải Nhất tác phẩm Tuổi xanh (Báo Tiền Phong), Giải Nhất Giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm.
5. Đóng góp nghệ thuật tiêu biểu của Câu lạc bộ Thư pháp gắn với sự kiện văn hóa lớn của đất nước là gì?
Chủ nhiệm CLB Thư pháp Lê Thiên Lý đã thực hiện công trình sáng tác 1.000 bức thư pháp chữ "Long" chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, thể hiện qua các thể chữ truyền thống (Triện, Lệ, Thảo, Hành) và hai thể chữ mới tự sáng tạo là "Nhân diện" và "Vật Điểu".
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Huệ đã tổng kết có hệ thống cơ sở lý luận về thiết chế câu lạc bộ và cung văn hóa, đồng thời phân tích chi tiết thực trạng 21 năm xây dựng và phát triển của Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng. Công trình làm nổi bật mô hình tự chủ "lấy kinh tế phát triển văn hóa", quản lý mạng lưới 36 câu lạc bộ với hơn 1.000 hội viên và 120 cộng tác viên. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi nhằm gắn kết các loại hình câu lạc bộ sở thích với hoạt động văn hóa du lịch, đóng góp tư liệu thực tiễn có giá trị cho công tác quản trị thiết chế văn hóa công đoàn.