Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với những bằng chứng khoa học rõ nét. Theo Báo cáo đánh giá lần thứ năm của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu, khoảng 95% nguyên nhân xuất phát từ hoạt động nhân sinh, làm nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng 0,85 độ C trong giai đoạn 1880-2012 và mực nước biển dâng trung bình 3,2 mm mỗi năm từ năm 1993 đến 2010. Tại Việt Nam, dù tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 37% năm 2005 lên 41,19% vào năm 2016, phần lớn diện tích rừng tự nhiên vẫn là rừng nghèo với trữ lượng carbon suy giảm nghiêm trọng. Tỉnh Bắc Kạn sở hữu tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 70% với diện tích đất lâm nghiệp chiếm hơn 98% đất nông nghiệp, song đời sống người dân vùng cao còn đối mặt nhiều thách thức khi tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh chiếm 26,0% và tỷ lệ nghèo năm 2010 lên tới 32,1%.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự thiếu hụt các mô hình tích hợp nội dung ứng phó khí hậu vào hoạt động lâm nghiệp cơ sở, khiến sinh kế cộng đồng dễ bị tổn thương trước thiên tai cực đoan. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức, thiết lập cam kết bảo vệ rừng và hoàn thiện mô hình lồng ghép ứng phó biến đổi khí hậu vào sản xuất lâm nghiệp cho các tổ nhóm nông dân thuộc Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu khí hậu 55 năm giai đoạn 1960-2014 và khảo sát thực địa tại hai xã Chu Hương (tỷ lệ nghèo 23,5%) và xã Mỹ Phương (tỷ lệ nghèo 65,0%), thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu tạo tiền đề gia tăng khả năng chống chịu cho hơn 95% cộng đồng dân tộc thiểu số và nâng cao giá trị sinh kế dưới tán rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững kết hợp phương pháp tiếp cận Thích ứng dựa vào cộng đồng nhằm phân tích cách thức người dân vận dụng 5 nguồn vốn (con người, tự nhiên, tài chính, vật chất, xã hội) để chống chịu các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đồng thời, đề tài ứng dụng Lý thuyết phát triển kinh tế hợp tác với mô hình tiến hóa 5 giai đoạn của tổ nhóm và hợp tác xã lâm nghiệp: từ giai đoạn 1 Phôi thai, giai đoạn 2 Thiếu niên, giai đoạn 3 Thanh niên, giai đoạn 4 Trưởng thành, đến giai đoạn 5 Tự lập.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Tính chống chịu của hệ sinh thái: Khả năng hấp thu và tự phục hồi của hệ thống rừng trước các nhiễu loạn môi trường mà không bị thay đổi về chất.
  • Tiếp cận đa ngành: Phương thức liên kết các chính sách kinh tế, xã hội và tài nguyên để giảm thiểu tổn thương sinh kế cho người nghèo.
  • Lồng ghép biến đổi khí hậu: Việc tích hợp các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng vào quy trình quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch kinh doanh lâm nghiệp.
  • Tổ chức của người sản xuất rừng và trang trại: Mô hình liên kết các hộ gia đình nhỏ lẻ nhằm nâng cao năng lực đàm phán thị trường và quản lý rừng bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm số liệu chuỗi thời gian khí tượng 55 năm (1960-2014) về nhiệt độ và lượng mưa từ trạm Bắc Kạn và trạm Chợ Rã; báo cáo kiểm kê cháy rừng giai đoạn 2010-2016 của huyện Ba Bể; cùng tài liệu thứ cấp từ Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại, UN-REDD và dự án Đối tác vì người nghèo.

Về phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 04 tổ nhóm lâm nghiệp nòng cốt: nhóm trồng rừng Khuổi SLiến, nhóm Mạy Phấy, nhóm trồng hồi Thạch Ngõa tại xã Chu Hương và nhóm sản xuất rừng Khuổi Cóong tại xã Mỹ Phương. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đánh giá chính xác các nhóm đại diện cho các mức độ tổ chức sản xuất khác nhau trên địa bàn. Kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với các trưởng nhóm, cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương, kết hợp thảo luận nhóm tập trung quy mô 6 đến 10 người bao gồm đại diện người cao tuổi, phụ nữ và thanh niên.

Phương pháp phân tích số liệu khí tượng sử dụng hàm hồi quy tuyến tính xác định đường xu thế và công thức tính độ lệch chuẩn nhiệt độ, lượng mưa các tháng tiêu biểu (tháng 1 và tháng 7). Phương pháp đánh giá tổ nhóm dựa trên ma trận 5 khía cạnh bền vững: Thị trường/Kinh tế, Quản lý tài nguyên/Môi trường, Xã hội/Văn hóa, Thể chế/Pháp lý, và Công nghệ/Kỹ thuật. Timeline triển khai và kiểm nghiệm mô hình lồng ghép thực địa được thực hiện hoàn tất trong giai đoạn 2015-2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất chỉ ra xu thế ấm lên rõ rệt của khí hậu địa phương qua hơn nửa thế kỷ. Tại trạm khí tượng Bắc Kạn, nhiệt độ trung bình năm giai đoạn 1961-2014 là 22,3 độ C, trong đó nhiệt độ đã tăng từ mức thấp nhất 21,5 độ C lên 23,3 độ C vào năm 2010 (tăng 1,8 độ C) theo phương trình xu thế Y = 21,852 + 0,0162x. Tại trạm Chợ Rã (huyện Ba Bể), nhiệt độ trung bình năm tăng mạnh từ 19,5 độ C lên 23,2 độ C (biên độ chênh lệch đạt 3,7 độ C) với hàm hồi quy Y = 21,699 + 0,0182x, thể hiện mức tăng nhiệt độ mùa đông rất rõ rệt.

Phát hiện thứ hai làm nổi bật sự biến động dị thường của lượng mưa và thiên tai cực đoan. Lượng mưa trung bình năm tại Bắc Kạn giảm khoảng 870 mm sau 55 năm theo phương trình Y = 1269,2 - 0,209x. Riêng tại Ba Bể, lượng mưa tháng 3 trong mùa xuân biến động mạnh nhất, tăng gấp 3 lần trong vòng 20 năm gần đây, thay thế hoàn toàn hiện tượng mưa phùn truyền thống bằng những đợt mưa rào cường độ lớn. Có từ 88% đến 90% lượng mưa tập trung dồn dập vào các tháng 6, 7, 8, làm gia tăng tần suất lũ quét, lũ ống và sạt lở đất đồi rừng.

Phát hiện thứ ba ghi nhận rủi ro ngày càng lớn đối với tài nguyên rừng và sản xuất lâm nghiệp. Mặc dù diện tích tự nhiên Ba Bể đạt 68.412 ha với độ che phủ rừng cao, chất lượng rừng nghèo khiến khả năng giữ đất, giữ nước suy giảm. Nguy cơ cháy rừng trong mùa khô hanh từ năm 2010 đến 2016 diễn biến phức tạp, đồng thời nhiệt độ mùa đông tăng cao tạo điều kiện cho sâu bệnh hại bùng phát trên cây mỡ và cây hồi.

Phát hiện thứ tư khẳng định hiệu quả của mô hình can thiệp lồng ghép. Trước khi can thiệp, nhận thức của người dân về các giải pháp ứng phó khí hậu còn rất hạn chế và phiến diện; phần lớn các nhóm lâm nghiệp chỉ ở giai đoạn phát triển phôi thai. Sau khi tích hợp nội dung truyền thông khí hậu vào chương trình tập huấn kinh doanh, tỷ lệ thành viên nắm vững kiến thức tăng vọt trên 85% và 100% tổ nhóm tham gia đã xây dựng thành công bản cam kết bảo vệ rừng gắn liền với phương án phòng ngừa rủi ro.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng suy thoái rừng và gia tăng rủi ro thiên tai tại huyện Ba Bể bắt nguồn từ địa hình chia cắt mạnh với độ dốc trên 20 độ, kết hợp nền nhiệt tăng cao làm suy giảm độ ẩm đất và tăng tốc độ bốc thoát hơi nước. So sánh với các công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mức tăng nhiệt độ tại Ba Bể cao hơn mức tăng trung bình cả nước (0,5 độ C trong 50 năm), khẳng định tính chất nhạy cảm cao của khu vực miền núi Đông Bắc.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện khí tượng được minh họa rõ nét qua biểu đồ đường xu thế đa thời gian thể hiện tương quan nghịch biến giữa nhiệt độ tăng và lượng mưa giảm tại trạm Chợ Rã. Bên cạnh đó, bảng tổng hợp đánh giá 5 khía cạnh bền vững và biểu đồ cột so sánh nhận thức trước - sau can thiệp là công cụ trực quan chứng minh tính ưu việt của việc lồng ghép kiến thức thích ứng vào các khóa tập huấn Phân tích thị trường và Phát triển kinh doanh lâm sản. Mô hình giúp chuyển hóa nhận thức thụ động thành các hành động cụ thể trong quản trị rủi ro rừng trồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và nhân rộng quy trình lồng ghép truyền thông biến đổi khí hậu vào tất cả các khóa tập huấn kỹ năng kinh doanh lâm sản của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại. Mục tiêu đạt 100% tổ hợp tác và nhóm sở thích lâm nghiệp ban hành kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai trước quý IV/2018, do Hội Nông dân tỉnh Bắc Kạn chủ trì phối hợp với Ban điều phối chương trình.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu loài cây trồng lâm nghiệp theo hướng thâm canh gỗ lớn và đa dạng hóa sinh kế dưới tán rừng. Cần ưu tiên các giống bản địa chịu hạn, có khả năng chống chịu sâu bệnh như cây hồi, cây mỡ kết hợp trồng xen chè khô và cây dược liệu, nhằm nâng tỷ lệ sống của cây rừng lên trên 90% và gia tăng sinh khối hấp thụ carbon thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2018-2022 dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Kạn.

Thứ ba, nâng cấp năng lực vận hành của các tổ nhóm lâm nghiệp từ giai đoạn phôi thai lên giai đoạn trưởng thành và tự lập. Cần thúc đẩy thành lập ít nhất 02 hợp tác xã lâm nghiệp kiểu mới tại xã Chu Hương và Mỹ Phương trong vòng 2 năm, hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi và trang thiết bị chế biến lâm sản tinh sâu, do Liên minh Hợp tác xã tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể điều phối thực hiện.

Thứ tư, thể chế hóa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn liền với kế hoạch hành động REDD+ cấp xã giai đoạn 2017-2020. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn cần phê duyệt quy chế quản lý bảo vệ đối với hơn 130 ha rừng phòng hộ cộng đồng tại Chu Hương và 127,23 ha rừng tại Mỹ Phương, đảm bảo nguồn tài chính bền vững tái đầu tư cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng và tuần tra bảo vệ rừng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý và hoạch định chính sách thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm và Sở Tài nguyên và Môi trường. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp địa phương và tích hợp mục tiêu giảm phát thải vào quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh.

Nhóm thứ hai là ban điều phối các chương trình, dự án quốc tế và tổ chức phi chính phủ như FAO, IUCN, RECOFTC, UN-REDD. Luận văn cung cấp khung phương pháp lồng ghép thực địa hiệu quả, giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính sẵn có mà không làm phát sinh gánh nặng chi phí vận hành cho dự án.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực Lâm nghiệp cộng đồng, Biến đổi khí hậu, Quản lý tài nguyên và Phát triển nông thôn bền vững. Đây là nguồn tham khảo giá trị về bộ số liệu khí tượng 55 năm và phương pháp đánh giá sinh kế 5 nguồn vốn tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhóm thứ tư là lãnh đạo các hợp tác xã, ban phát triển thôn và chủ rừng trang trại tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình đóng vai trò như cẩm nang hướng dẫn từng bước xây dựng quy chế quản trị nội bộ, phân tích thị trường lâm sản và lập kế hoạch ứng phó thiên tai dựa vào cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình lồng ghép biến đổi khí hậu trong nghiên cứu có làm gia tăng chi phí của dự án lâm nghiệp không? Mô hình không làm phát sinh thêm chi phí hay kéo dài thời gian thực hiện, nhờ việc tích hợp trực tiếp kiến thức khí hậu vào các hoạt động tập huấn kinh doanh và khảo sát sẵn có của chương trình hỗ trợ.

Biểu hiện biến đổi khí hậu tại huyện Ba Bể thể hiện rõ nét nhất qua những chỉ số nào? Biểu hiện rõ nhất là nhiệt độ trung bình năm tại trạm Chợ Rã tăng 3,7 độ C qua 54 năm quan trắc, cùng hiện tượng lượng mưa tháng 3 tăng gấp 3 lần và 88% đến 90% lượng mưa tập trung dồn dập vào mùa hè.

Tại sao hai xã Chu Hương và Mỹ Phương lại được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu trọng điểm? Đây là hai địa bàn miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao từ 23,5% đến 65,0%, trên 70% dân số là người dân tộc Tày sống phụ thuộc vào rừng nhưng năng lực thích ứng với thời tiết cực đoan còn rất hạn chế.

Khung đánh giá năng lực của các tổ nhóm lâm nghiệp gồm những nhóm tiêu chí nào? Năng lực tổ chức được đo lường toàn diện qua 5 nhóm yếu tố bền vững gồm: Thị trường/Kinh tế, Quản lý tài nguyên thiên nhiên/Môi trường, Xã hội/Văn hóa, Thể chế/Pháp lý, và Công nghệ/Kỹ thuật.

Lợi ích lớn nhất mà người trồng rừng nhận được khi tham gia mô hình lồng ghép là gì? Người dân được nâng cao kỹ năng kinh doanh lâm sản, chủ động lựa chọn giống cây trồng thích ứng thời tiết, giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng và tiếp cận cơ chế hưởng lợi từ các chính sách lâm nghiệp bền vững.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện chuỗi số liệu khí hậu 55 năm, chỉ ra xu thế ấm lên nhanh chóng với nhiệt độ tăng từ 1,8 độ C đến 3,7 độ C và tính chất cực đoan của lượng mưa tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
  • Đề tài chuẩn hóa thành công khung đánh giá 5 khía cạnh bền vững và lộ trình 5 giai đoạn phát triển cho các tổ chức sản xuất rừng và trang trại quy mô cộng đồng.
  • Xây dựng và kiểm nghiệm thành công mô hình lồng ghép biến đổi khí hậu vào quy trình tập huấn của Chương trình Hỗ trợ Rừng và Trang trại, giúp tiết kiệm nguồn lực và tối ưu hóa hiệu quả thực địa.
  • Chuyển đổi thành công nhận thức và thúc đẩy 100% tổ nhóm tham gia ký cam kết bảo vệ rừng gắn liền với phương án phát triển sinh kế bền vững tại xã Chu Hương và Mỹ Phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ từ cấp thể chế chính sách, kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn đến phát triển mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp một khung giải pháp lồng ghép mang tính ứng dụng cao, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo vệ hệ sinh thái rừng và nâng cao thu nhập cho người nông dân vùng cao. Trong giai đoạn 2018-2020, mô hình cần được tiếp tục theo dõi, đánh giá và hoàn thiện để nhân rộng trên toàn bộ 16 xã, thị trấn của huyện Ba Bể và các tỉnh vùng Đông Bắc. Các nhà quản lý, tổ chức phát triển và cộng đồng trồng rừng hãy chủ động ứng dụng quy trình lồng ghép này vào thực tiễn sản xuất nhằm kiến tạo nền lâm nghiệp các-bon thấp và thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.