mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho việc hình thành và hoàn thiện nhân cách 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con ngƣời, tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội đƣợc các kinh nghiệm xã hội, tiếp thu các giá trị truyền thống dân tộc. Nhận thức đƣợc ý nghĩa sâu sắc của vấn đề giáo dục môi trƣờng đối với ho ̣c sinh Tiể u ho ̣c, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng và lồ ng ghép nội dung giáo dục môi t rường vào chương trình đào tạo cho học sinh tại trường tiểu học quốc tế Olympia – Khu đô thi ̣ Trung Văn – Hà Nội” 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về giáo dục môi trƣờng 1. Lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục môi trƣờng Hai từ “giáo dục” và “môi trƣờng” đƣợc chính thức kết hợp với nhau lần đầu tiên vào khoảng giữa những năm 1960.
Khái niệm giáo dục môi trƣờng (GDMT) đƣợc hình thành ở nƣớc Anh là nhờ ở Sir Patrick Geddes, một giáo sƣ thực vật học ngƣời Scotland. Ông đã chỉ ra mối liên hệ quan trọng giữa chất lƣợng môi trƣờng với chất lƣợng giáo dục vào khoảng năm 1982. Năm 1972, Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trƣờng nhân văn đƣợc tổ chức ở Stockholm (Thuỵ Điển) và khái niệm GDMT chính thức ra đời, góp phần giúp con ngƣời nhận thức rõ đƣợc tác động của mình đối với môi trƣờng. Đến tháng 10/1975, IEEP tổ chức hội thảo quốc tế về GDMT tại Belgrade đƣa ra nghị định khung và tuyên bố về mục tiêu và nguyên tắc hƣớng dẫn GDMT.
Năm 1977, Hội nghị Liên chính phủ về GDMT đƣợc tổ chức ở Tbilisi (Liên Xô cũ) chính thức tán thành định nghĩa và các nguyên tắc của GDMT. Năm 1980, Chiến lƣợc Bảo tồn Thế giới kêu gọi một “đạo đức” mới trong xã hội loài ngƣời, nghĩa là con ngƣời hãy chung sống hài hoà với thế giới tự nhiên. Xét cho cùng, chỉ có thể đạt đƣợc các mục tiêu bảo tồn nếu toàn thể xã hội loài ngƣời thay đổi cách ứng xử với môi trƣờng. Nhiệm vụ lâu dài của GDMT là nuôi dƣỡng, củng cố những thái độ và hành vi phù hợp với đạo đức mới.
Năm 1987, Hội nghị thế giới lần thứ hai về GDMT do UNESCO và UNEP phối hợp tổ chức ở trong số những sáng kiến đầu tiên đã bị thất bại. Sau Hội nghị này, các hoạt động hiện trƣờng bùng nổ. Các hiệp hội đƣợc thành lập ở rất nhiều nƣớc khác nhau và mọi nỗ lực đều đi theo định hƣớng “suy nghĩ ở cấp toàn cầu và hành động ở cấp địa phƣơng”. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1992, Hội nghị Thƣợng đỉnh về Trái đất đƣợc tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil.
Tại Hội nghị này, vấn đề GDMT đƣợc nhấn mạnh và đƣa vào chƣơng trình Nghị sự 21: đƣa khái niệm về môi trƣờng và phát triển vào tất cả các chƣơng trình giáo dục, xây dựng các chƣơng trình đào tạo cho học sinh và sinh viên. Mốc quan trọng cuối cùng trên quy mô toàn cầu là Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững tổ chức ở Johannesburg, Nam Phi năm 2002. Hội nghị thống nhất: Mục đích của GDMT giờ đây đã trở thành việc theo đuổi của tất cả các hoạt động giáo dục. Các khái niệm về giáo dục môi trƣờng Một bƣớc ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển định nghĩa GDMT là Hội nghị quốc tế về GDMT trong Chƣơng trình học đƣờng do IUCN/UNESCO tổ chức tại Nevada, Mỹ năm 1970.
Hội nghị này đã thông qua định nghĩa sau về GDMT: “Là quá trình thừa nhận giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường lý sinh xung quanh mình. GDMT cũng tạo cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”. Năm 1975, Martin bắt đầu cố gắng thay đổi một số hiểu biết về môi trƣờng. Trong định nghĩa của ông, chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị trong GDMT, cũng nhƣ đến đạo lý và giá trị.
Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ “giáo dục môi trƣờng” đã đƣợc sử dụng ở Stockholm năm 1972 tại Hội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trƣờng nhân văn. Nhƣng chỉ đến Hội nghị ở Belgrade nó mới đƣợc định nghĩa trên quy mô toàn cầu. Kể từ đó, cộng đồng quốc tế thừa nhận định nghĩa về GDMT là “quá trình nhằm phát triển một cộng đồng dân cư có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến toàn bộ môi trường cùng những vấn đề liên quan, có kiến thức, kỹ năng, động cơ và cam kết để có thể làm việc độc lập hoặc hợp tác với người khác nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện có và phòng chống những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai”. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những khuynh hƣớng mới trong GDMT thừa nhận rằng các hành vi môi trƣờng không chỉ bị ảnh hƣởng bởi kiến thức, mà còn bị chi phối bởi cách nhìn nhận về giá trị môi trƣờng, phƣơng án lựa chọn, kỹ năng, và những nhân tố thúc đẩy khác, nhƣ trong định nghĩa của Hiệp hội Giáo dục môi trƣờng Bắc Mỹ, năm 1993.
Sau đây là một định nghĩa tƣơng đối mới về GDMT có khả năng giải quyết đƣợc những thách thức đối với phát triển bền vững (PTBV): “GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hữu ích giúp người dạy và người học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường có ảnh hưởng đến họ và tìm ra những câu trả lời dẫn đến một lối sống có trách nhiệm, được thông tin đầy đủ”. Điều quan trọng là cần nhận thấy, rằng trong tất cả những định nghĩa khác nhau này, có một số điểm cơ bản chung có tính cố hữu. Thứ nhất, GDMT là một một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phƣơng thức khác nhau; Thứ hai, rằng GDMT nhằm thay đổi hành vi; Thứ ba, rằng khung cảnh học tập là bản thân môi trƣờng và những vấn đề có trong thực tế; Thứ tư, rằng GDMT bao gồm giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống. Nói một cách gián tiếp, nhờ tập trung vào phát triển kỹ năng, những định nghĩa này muốn nói rằng việc học phải tập trung ngƣời học và lấy hành động làm cơ sở.
Giáo dục bảo vệ môi trƣờng trong hệ thống giáo dục quốc dân 1. Vai trò, vị trí của giáo dục đối với việc bảo vệ môi trƣờng Con ngƣời là một thành phần của môi trƣờng (MT) và là chủ thể của BVMT. Ý thức, thái độ, hành vi ứng xử đối với MT là một trong các yếu tố nhân cách của ngƣời lao động. Chức năng tổng quát nhất và cao quý nhất của giáo dục là “trồng ngƣời”, rèn luyện và phát triển nhân cách ngƣời lao động.
Thật vậy, quá trình giáo dục, đặc biệt là giáo dục có hệ thống trong nhà trƣờng đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành tƣ cách công dân, cách ứng xử đối với xã hội, đối với MT của 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mỗi cá nhân. Một khi con ngƣời có những hiểu biết về mối quan hệ nhân quả giữa MT và phát triển kinh tế - xã hội, giữa MT và sự tồn tại của xã hội, giữa MT và chính cuộc sống của mình thì trong mọi hành động họ sẽ nâng niu và ứng xử thân thiện với MT vì mục tiêu PTBV. Mọi thành viên trong cộng đồng xã hội đều có quan hệ với nhau và quan hệ trực tiếp với MT. Tất cả đều có trách nhiệm trƣớc MT.
Chính vì vậy, giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và PTBV đất nƣớc. Đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trƣờng (GDBVMT) không chỉ làm cho mọi ngƣời hiểu rõ sự cần thiết phải BVMT mà quan trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xử thân thiện, văn minh, lịch sự với MT. Điều này phải đƣợc hình thành trong một quá trình lâu dài và phải bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ, từ gia đình tới nhà trƣờng, từ trƣờng tiểu học đến những năm học ở trƣờng phổ thông. Nhiệm vụ và phƣơng pháp tiếp cận trong giáo dục bảo vệ môi trƣờng a, Nhiệm vụ trong giáo dục bảo vệ môi trƣờng Theo tuyên ngôn của Tổ chức UNESCO - UNEP năm 1998 “GDBVMT không phải là ghép thêm vào chƣơng trình giáo dục nhƣ là một bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà nó là một đƣờng hƣớng hội nhập vào chƣơng trình đó.
GDBVMT là kết quả của một sự định hƣớng lại và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật,…), nó cung cấp một nhận thức toàn diện về môi trƣờng”. GDBVMT là một phƣơng pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi ngƣời hiểu về môi trƣờng với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái độ cam kết, thái độ này sẽ nuôi dƣỡng niềm mong ƣớc và năng lực hành động có trách nhiệm trong môi trƣờng. GDBVMT với không chỉ kiến thức mà còn cả tình cảm, thái độ, kỹ năng và hành động xã hội. Nhƣ vậy, việc GDBVMT cần phải đƣợc tiến hành giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trƣởng thành, từ những ngƣời 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm việc sinh hoạt thƣờng ngày trong cộng đồng tới những ngƣời làm công tác chỉ đạo, quản lý, nhà chiến lƣợc kinh tế xã hội.
b, Phƣơng pháp tiếp cận trong giáo dục bảo vệ môi trƣờng: Tích hợp và lồng ghép: GDBVMT là giáo dục tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về môi trƣờng cho học sinh – sinh viên, những kiến thức về môi trƣờng thông qua từng môn học và chƣơng trình riêng phù hợp với từng đối tƣợng. Việc giáo dục này chủ yếu dựa theo phƣơng thức lồng ghép và liên hệ trong các nội dung giảng dạy của các môn học.