MỞ ĐẦU Axit arachidonic là một axit béo không no, thành phần chính của các phospholipit trong màng tế bào não, cơ bắp và gan. Trong tự nhiên, axit arachidonic thường được phân lập từ lipit của gan, trứng các loài cá biển. Chúng cũng là thành phần chính trong lipit của một số loài rong biển. Axit arachidonic có tác dụng kích hoạt hệ enzyme NADPH oxygenase giúp hoạt hoá quá trình trao đổi oxi, kích hoạt các kênh ion K+, Ca2+, khe liên bào và dòng cation liên kết với chất vận chuyển dopamin… Axit arachidonic (AA), axit eicosapentaenoic (EPA), có vai trò quan trọng nhất trong lipit của cơ thể động vật bậc cao vì chúng là tiền chất để sinh tổng hợp các chất điều hoà sinh học (còn gọi là các hoocmon tổ chức) đặc biệt là các prostaglandin, một nhóm hợp chất oxylipin (dẫn xuất oxi hoá của axit béo có 20 nguyên tử cacbon).
Đây là những chất có phổ ứng dụng rất rộng trong y, dược và đã được sử dụng làm thuốc điều tiết các quá trình thụ thai, mang thai và sinh đẻ qua sự điều tiết hệ hoocmon cũng như các biến đổi có kiểm soát của các hệ enzyme. Các prostaglandin còn tác động lên khả năng chịu đựng của hệ cơ phẳng, hệ bài tiết, hệ tiêu hóa và hệ tuần hoàn trong cơ thể sống. Chính vì hoạt tính mạnh ở nồng độ thấp, prostaglandin đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu tổng hợp hay tìm kiếm từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Ngay sau khi phát hiện được hoạt chất này có trong loài san hô Plexaura homamalla, việc khai thác san hô để sản xuất các sản phẩm trong đó có prostaglandin phát triển mạnh vào những năm 1970 nhưng sau đó bị cấm theo các công ước quốc tế để bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô.
Những năm gần đây, các nhà khoa học Nga đi đầu trong việc tìm kiếm các hoạt chất prostaglandin từ rong Đỏ ở vùng biển Viễn Đông - Liên bang Nga. Việc này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đây là một nguồn lợi sinh vật biển có khả năng tái sinh cao, có thể khai thác mà không sợ bị ảnh hưởng đến hệ sinh thái ven biển. Rong biển từ lâu đã được dùng làm nguyên liệu cho rất nhiều ngành công nghiệp để chế biến ra các sản phẩm có giá trị sử dụng cao như agar, alginat, carrageenan, fuicoidan, các hoạt chất sinh học…[56] Người ta còn sử dụng rong Mơ (Sargassum) làm nguyên liệu chiết alginat để khử độc, loại bỏ các nguyên tố kim loại 1 nặng độc hại hay các nguyên tố phóng xạ ra khỏi cơ thể như chì (Pb), cadimi (Cd), uranium (U)… Rong biển chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Nhiều hoạt chất từ rong biển có khả năng ứng dụng trong y dược điển hình như: Curacin - A (chiết từ một loài rong tại bờ biển Curacao - phía nam biển Caribe), chất này thể hiện hoạt tính chống ung thư vú cao hơn cả taxol; Fucoidan, một loại sulphat polysaccarit, chiết từ rong nâu có khả năng ngăn ngừa di căn của ung thư, điều trị và hỗ trợ điều trị một số bệnh nan y như ung thư, viêm loét dạ dày, rối loạn đường tiêu hoá; phloroglucinol có tác dụng thâu tóm các gốc tự do làm giảm cơ chế hình thành khối u; Các axit béo không no nhiều nối đôi (PUFA-Polyunsaturated fatty acids) như axit arachidonic (AA), axit eicosapentaenoic (EPA), axit docosahexaenoic (DHA) có tác dụng ức chế cạnh tranh làm hạn chế hình thành các chất tiền viêm (leucotrien, thromboxane…) và có nhiều ứng dụng trong y, dược [30,53].
Nghiên cứu về động thái hình thành, tích luỹ lipit và axit béo đặc biệt là các hoạt chất eicosanoit và prostaglandin ở rong Đỏ giúp định hướng nuôi trồng cũng như sử dụng có hiệu quả nguồn lợi này và là lĩnh vực rất mới mẻ ở Việt Nam. Vì những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn rong Đỏ là đối tượng nghiên cứu của luận án. Đề tài:“Nghiên cứu sàng lọc, phân lập và nhận dạng các hoạt chất axit béo, axit arachidonic và prostaglandin từ rong Đỏ biển” có các nội dung sau: 1. Xác định hàm lượng lipit và thành phần axit béo đặc biệt là axit arachidonic và prostaglandin của 68 mẫu rong Đỏ Việt Nam và 01 mẫu thu tại vùng biển Viễn Đông - Liên bang Nga.
Phân tích sự biến động về hàm lượng lipit, thành phần axit béo do sự khác biệt về môi sinh và bản chất sinh học của loài. Đánh giá sự biến động hàm lượng các axit béo và prostaglandin trong quá trình nuôi trồng loài rong Câu Gracilaria vermiculophylla (Ohmi) Papenf. thu từ vùng biển Viễn Đông - Liên bang Nga ở điều kiện Việt Nam. Sử dụng dữ liệu thành phần và hàm lượng các axit béo chính yếu để phân loại hoá học thực vật (chemotaxonomy) đối với các loài rong Đỏ bằng phương pháp phân tích cấu tử chính (Principal Component Analysic - PCA).
Phân lập và nhận dạng các hoạt chất axit arachidonic, prostaglandin từ một số loài rong Đỏ có tiềm năng thu ở vùng biển Việt Nam và biển Viễn Đông - Liên Bang Nga. Lipit và axit béo 1. Lipit Lipit (có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ - Lipos nghĩa là mỡ hay là chất béo) là những hợp chất hữu cơ tự nhiên rất phổ biến trong tế bào các cơ thể sống, trong động vật, thực vật và vi sinh vật. Chúng có thành phần hoá học và cấu tạo khác nhau nh- ưng có tính chất chung là không hoà tan trong nước mà hoà tan trong các dung môi hữu cơ như: ete, clorofom, benzen, ete dầu hỏa.
Lipit là hợp phần cấu tạo quan trọng của các màng sinh học tế bào, là nguồn cung cấp năng lượng (37,6.106 J/kg), nguồn cung cấp các vitamin A, D, E, F, K và F cho cơ thể sống. Trong tự nhiên, những hợp chất thuộc về lớp chất lipit tồn tại rất đa dạng như: các hydrocacbon bậc cao, các ancol, các aldehyt, các axit béo và các sản phẩm thứ cấp của chúng như glycerit, sáp, phospholipit, glucolipit, sulfolipit. Lipit có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau, tuy nhiên cấu tạo lipit thường có chung một nguyên tắc trong thành phần phân tử lipit bao gồm hai phần: một phần là các đuôi mạch hydrocacbon kị nước; phần kia là tổ hợp nhóm các chất ưa nước (gọi là đầu phân cực). Hai phần của phân tử lipit được liên kết với nhau bởi mắt xích liên kết ở giữa và phân tử lipit tồn tại như một liên kết tổ hợp của hai phần, trong đó những phần tử kị nước tham gia cấu tạo nên pha không phân cực, còn nhóm những chất phân cực hình thành nên ranh giới phân cách giữa pha không phân cực và nước (hình 1.
Cấu tạo phân tử lipit 4 Cấu trúc tổ hợp liên kết của phân tử lipit phụ thuộc nhiều vào nguồn gốc tự nhiên của các cấu tử tham gia vào thành phần của nó. Thường người ta dùng nguồn gốc tự nhiên của mắt xích liên kết, giữa phần phân cực và phần không phân cực để làm cơ sở phân loại lớp chất lipit [97]. Theo đó, lipit có hai dạng glyxerin và sphingozin. Trong thực tế đa phần dầu mỡ tồn tại dưới dạng este của glyxerin (1) với các axit béo (gọi là glyxerit), khi mà cả ba nhóm hydroxyl (OH) của glyxerin đều được este hóa thì gọi là triglyxerit hoặc là triaxylglyxerin (2).
Do đó dầu mỡ cũng có tên là lipit trung tính và có công thức cấu tạo (hình 1.2): 1 CH OH 1 CH2 OCOR1 2 2 2 HO C H R2OCO C H 3 CH2 OCOR3 3 CH OH 2 Glyxerin (1) Triglyxerit (2) Hình 1. Cấu tạo lipit trên cơ sở glyxerin Nhóm chất lipit khác cũng phân bố rộng rãi trong lớp màng tế bào, đặc biệt ở não là các sphingolipit, chúng được cấu tạo trên cơ sở liên kết nhóm amin của sphingozin (3) với các axít béo. Các sphingolipit đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn tín hiệu và nhận biết tế bào, chúng có tác động đặc biệt vào mô thần kinh. Các hợp chất nhận được qua biến đổi được gọi chung là ceramit (4) và có công thức cấu tạo mô tả ở hình 1.
CH2OH H C NH2 H C OH HO CH CH CH NH CH (CH2)12 HO CH 2 O CH3 Ceramit (4) Sphingozin (3) Hình 1. Cấu tạo lipit trên cơ sở sphingozin 5 1. Các axit béo Cấu trúc đa dạng của lipit được bắt nguồn từ các axit béo khác nhau tham gia vào trong thành phần của nó. Cho đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện được hơn 500 axit khác nhau bởi mức độ và đặc điểm phân nhánh của mạch hydrocacbon, số lượng và vị trí các nối đôi trong mạch, vị trí và số lượng các nhóm chức, độ dài của mạch hydrocacbon.
Các axit béo có mặt trong thành phần lipit thực vật, động vật trên cạn thường có từ 16 đến 20 nguyên tử cacbon trong phân tử. Trong khi ở sinh vật biển đa phần chứa các axit béo mạch dài từ 20 đến 26, thậm chí đến 30 nguyên tử cacbon [16]. Cách gọi tên axit béo theo danh pháp quốc tế, theo tên thông thường hay tên gọi nhanh. Ví dụ C18:2n-6 hay C18:2Δ9,12 là tên gọi nhanh của axit linoleic hay tên theo danh pháp quốc tế là 9,12-octadecadienoic.
Trong đó, trong tên gọi nhanh, chỉ số đầu tiên chỉ số nguyên tử cacbon, chỉ số thứ hai chỉ số lượng nối đôi trong mạch cacbon, chỉ số thứ ba sau n (hoặc ω) cho biết vị trí đầu tiên của nối đôi kể từ đầu metyl (CH3), delta (Δ) với các số đếm đằng sau để chỉ sự có mặt của vị trí nối đôi (hoặc nối ba) ở trong mạch hydrocacbon tính từ đầu cacbon carboxyl. Ngoài ra, có thể có thêm kí hiệu của đồng phân lập thể như cis (Z) hay trans (E). Ví dụ tên gọi của một số axit béo thường gặp nhất trong tự nhiên. Tên gọi nhanh Tên thông thường Tên qui ước quốc tế 14:0 Myristic Tetradecanonic 16:0 Palmitic Hexadecanoic 18:0 Stearic Octadecenoic 18:1n-9 Oleic Cis-9-octadecenoic 18:2n-6 Linoleic 9,12-octadecadienoic 18:3n-3 Linolenic 9,12,15-octadecatrienoic 20:4n-6 Arachidonic (AA) 5,8,11,14-eicosatetraenoic 20:5n-3 Eicosapentaenoic (EPA) 5,8,11,14,17-eicosapentaenoic 22:6n-3 Docosahexaenoic (DHA) 4,7,10,13,16,19-docosahexaenoic 1.
Axit béo bão hoà Hầu hết các axit béo bão hòa (axit béo no) có mặt trong tự nhiên có cấu tạo mạch thẳng với số nguyên tử cacbon chẵn. Các axit với số nguyên tử cacbon từ C2- C30 được biết đến, nhưng phổ biến và quan trọng nhất là C12-C22. Chúng có thể được 6 gọi tên theo tên thường và tên khoa học hoặc gọi theo kí hiệu số như C16:0, chỉ axit no mạch thẳng có 16 nguyên tử cacbon. Những axit béo đơn giản trong tự nhiên là các axit béo no, với mạch hydrocacbon dài, không phân nhánh có công thức chung như sau (5).
Các axit này chiếm tỉ lệ khoảng 1% so với tổng số các axit béo.