Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số: 62 22 56 01) với đề tài "Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1997 đến năm 2010" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Bình thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Ngô Ngọc Thắng.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí, vai trò nền tảng của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) trong hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. TCCSĐ là hạt nhân chính trị ở cơ sở, cầu nối trực tiếp giữa các cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng nhân dân, nơi trực tiếp triển khai đường lối, chính sách và là đơn vị chiến đấu cơ bản tiến hành công tác xây dựng nội bộ Đảng. Yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ đã được khẳng định xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và lần thứ XII của Đảng. Đối với tỉnh Hà Nam, mốc thời gian ngày 01/01/1997 đánh dấu sự kiện tái lập tỉnh sau hơn 32 năm sáp nhập (trong tỉnh Nam Hà và Hà Nam Ninh). Sau tái lập, địa phương bước vào công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế với nhiều thuận lợi nhưng cũng đối mặt với sự xáo trộn bộ máy, tình trạng thiếu hụt cán bộ và các điểm nóng phức tạp về trật tự xã hội, tôn giáo, đất đai. Việc nghiên cứu có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng TCCSĐ nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về một giai đoạn lịch sử chuyển biến đặc thù, cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng và rút ra bài học kinh nghiệm.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010; phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế và bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định và thực hiện 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ quan điểm của các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan trực tiếp đến đề tài.
  2. Làm rõ bối cảnh lịch sử chi phối quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam từ năm 1997 đến năm 2010; phân tích, luận giải các chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự cụ thể hóa của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong thời kỳ này.
  3. Tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ trên 3 nội dung: chính trị, tư tưởng và tổ chức; trong đó chú trọng vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công tác kiểm tra và kỷ luật đảng ở cơ sở.
  4. Đánh giá khách quan những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra các kinh nghiệm chủ yếu về sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các chủ trương, sự chỉ đạo xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam và thực tiễn phong trào xây dựng TCCSĐ trên địa bàn tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động lãnh đạo xây dựng TCCSĐ trên 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, đi sâu vào công tác cán bộ, đảng viên và kiểm tra, kỷ luật đảng.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Hà Nam theo địa giới hành chính được phân định chính thức từ ngày 01/01/1997 đến năm 2010.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/01/1997 (thời điểm tỉnh Hà Nam tái lập) đến năm 2010 (thời điểm tổng kết 13 năm xây dựng, kết thúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, chuẩn bị Đại hội XVIII). Luận án cũng khảo lược bối cảnh trước năm 1997 ở mức độ cần thiết phục vụ việc so sánh, đối chiếu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu theo hai nhóm cấp độ chính:

Nhóm nghiên cứu trên bình diện toàn quốc:

  • Về phương diện lý luận và vị trí của TCCSĐ: Bài viết của Nguyễn Văn (2005) khẳng định TCCSĐ là "gốc rễ", cầu nối đưa đường lối của Đảng vào nhân dân; Vũ Văn Phúc (2011) luận giải TCCSĐ là cấp tổ chức cuối cùng trong hệ thống bốn cấp, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở; Trần Minh Trưởng (2013) hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng gắn với TCCSĐ trong sạch, vững mạnh; Ngô Minh Vương (2014) trong luận văn thạc sĩ lịch sử phân tích cấu trúc hạt nhân của TCCSĐ trong hệ thống chính trị cơ sở tại Đồng Nai; Nguyễn Xuân Hải (2014) khảo sát TCCSĐ tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa; Nguyễn Hồng Sơn (2015) phân tích chức năng kép vừa tổ chức thực hiện đường lối, vừa trực tiếp tiến hành công tác xây dựng nội bộ Đảng.
  • Về sự lãnh đạo xây dựng TCCSĐ: Nguyễn Đức Hà (2010) đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, đề cập các mô hình thí điểm nhất thể hóa chức danh; Nguyễn Phú Trọng (2012) trong công trình "Xây dựng chỉnh đốn Đảng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" nhấn mạnh nguyên lý muốn toàn Đảng mạnh thì từng cơ sở phải mạnh; Hồ Đức Việt (2015) nêu ba yêu cầu trọng tâm về công tác tư tưởng, chuẩn hóa đội ngũ và đổi mới sinh hoạt cấp ủy theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa X; Dương Trung Ý (2015) luận giải các nhóm giải pháp trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa và dựa vào dân để xây dựng Đảng.
  • Các nghiên cứu theo từng loại hình cơ sở và vùng địa bàn: Cao Văn Định (2000) nghiên cứu TCCSĐ cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bắc Trung Bộ; Nguyễn Minh Tuấn (2003) nghiên cứu TCCSĐ trong doanh nghiệp nhà nước tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; đề tài khảo sát của Viện Xây dựng Đảng (2004) về TCCSĐ nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; Chu Thị Thoa (2005) về sinh hoạt chi bộ nông thôn trung du Bắc Bộ; Lê Tấn Lập (2007) về lãnh đạo thực thi quyền lực nhân dân tại đồng bằng sông Cửu Long; Hà Duy Dĩnh (2009) về TCCSĐ trong Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Nguyễn Việt Phương (2011) về TCCSĐ miền núi Tây Bắc; Trần Thị Thu Hằng (2012) về Đảng bộ thành phố Hà Nội xây dựng TCCSĐ giai đoạn 1996 - 2005; Võ Văn Đức và Đinh Ngọc Giang (2014); Trần Đức Tuấn (2015) về TCCSĐ ở Thái Bình; Vũ Thị Duyên với luận án tiến sĩ về công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010.

Nhóm nghiên cứu gắn với địa bàn tỉnh Hà Nam:

  • Về lịch sử Đảng bộ địa phương: Các bộ sách "Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Hà Nam" tập 1 (2000) giai đoạn 1927 - 1975 và tập 2 (2010) giai đoạn 1975 - 2005 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; các công trình lịch sử Đảng bộ huyện Bình Lục (2005), huyện Lý Nhân (2005), thị xã Phủ Lý (2008), huyện Thanh Liêm (2009); luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Hạnh (2008) về sự hình thành, phát triển của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1930 - 1965; luận văn thạc sĩ của Nghiêm Thị Lan Oanh (2013) về nhiệm vụ xây dựng Đảng tại Hà Nam giai đoạn 2000 - 2013.
  • Về công tác xây dựng TCCSĐ tại tỉnh Hà Nam: Luận văn của Nguyễn Duy Hạnh (2000) về Đảng bộ huyện Kim Bảng (1986 - 1999); Lữ Văn Chung (2005) về TCCSĐ thị xã Phủ Lý; đề tài cấp cơ sở của Nguyễn Duy Hạnh (2007) về doanh nghiệp nhà nước tại Hà Nam; Nguyễn Thị Phương Lan (2010) về đảng bộ cấp xã huyện Duy Tiên; luận văn thạc sĩ của Ngô Thị Hường về Đảng bộ tỉnh Hà Nam xây dựng TCCSĐ giai đoạn 2001 - 2011.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Các nghiên cứu trên bình diện toàn quốc phần lớn tiếp cận ở góc độ lý luận xây dựng Đảng hoặc khoa học chính trị thuần túy, chưa kết hợp phương pháp lịch đại với việc bóc tách cấu trúc TCCSĐ trên một địa bàn hành chính - lãnh thổ cụ thể. Đối với tỉnh Hà Nam, các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở phạm vi hẹp (cấp huyện hoặc một loại hình doanh nghiệp nhà nước riêng lẻ). Công trình của Ngô Thị Hường (2011) tuy có khảo sát cấp tỉnh giai đoạn 2001 - 2011 nhưng chưa gắn kết đầy đủ giữa tiến trình thời gian lịch đại với cấu trúc ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đồng thời bỏ trống giai đoạn bản lề 1997 - 2000 ngay sau tái lập tỉnh. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Bình định vị nhiệm vụ bổ khuyết toàn diện khoảng trống lịch sử này trong khung thời gian 13 năm (1997 - 2010).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Đảng kiểu mới, đặc biệt là các quy định về vị trí, vai trò, chức năng của TCCSĐ trong Điều lệ Đảng các khóa VIII (1996), IX (2001) và X (2006).

Khung khái niệm và phân tích:

  • Khái niệm TCCSĐ: Điều 10 Điều lệ Đảng quy định TCCSĐ được lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp, kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
  • Chức năng của TCCSĐ: Luận án phân tích hai nhóm chức năng cốt lõi được chế định trong Điều lệ Đảng: (1) Chức năng lãnh đạo ở cơ sở (lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, định hướng hoạt động của chính quyền, đoàn thể và định hướng tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân); (2) Chức năng xây dựng nội bộ Đảng (kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đảng viên, thực hiện chế độ sinh hoạt, tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giữ vững kỷ luật).
  • Khung tiếp cận kết hợp: Tác giả áp dụng cách tiếp cận chuyên ngành Lịch sử Đảng (theo trục tiến trình thời gian - lịch đại) kết hợp chặt chẽ với cấu trúc nghiên cứu của Khoa học Chính trị và Xây dựng Đảng (khảo sát đồng đại theo ba trụ cột: xây dựng TCCSĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận nền tảng: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp chuyên ngành: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic để phản ánh trung thực quá trình chuyển biến của các chủ trương và kết quả thực tế.
  • Phương pháp lịch đại và đồng đại: Tiếp cận lịch đại giúp tái hiện trình tự xuất hiện của các nghị quyết, chỉ thị qua hai giai đoạn 1997 - 2005 và 2006 - 2010. Tiếp cận đồng đại cho phép mổ xẻ chiều sâu của các sự kiện, đánh giá mức độ tương tác giữa chủ trương của Tỉnh ủy với hoạt động của TCCSĐ trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức trong cùng một thời điểm lịch sử.
  • Phương pháp so sánh: Phân tích sự chuyển biến về yêu cầu lãnh đạo, năng lực thích ứng của TCCSĐ giữa thời kỳ đầu tái lập tỉnh (1997 - 2005) với thời kỳ gia tăng tốc độ công nghiệp hóa và hội nhập (2006 - 2010).
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê lịch sử: Thu thập, thẩm định các số liệu định lượng về tổ chức đảng, đảng viên, kết quả phân loại cơ sở và kết quả phát triển kinh tế - xã hội địa phương từ các văn bản báo cáo lưu trữ.

Nguồn tư liệu sử dụng:

  • Nguồn tư liệu sơ cấp: Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa VIII, IX, X; các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận, báo cáo thống kê, biên bản tổng kết lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Hà Nam, các ban xây dựng Đảng của Tỉnh ủy, văn phòng các huyện ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Đảng bộ tỉnh.
  • Nguồn tư liệu thứ cấp: Các công trình lịch sử Đảng bộ tỉnh, huyện đã xuất bản; sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận án, bài báo đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng, Lý luận chính trị, Xây dựng Đảng.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án gồm 4 chương, 10 tiết, tái hiện toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam đối với TCCSĐ.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu các công trình nghiên cứu đã công bố theo hai mảng lớn: các nghiên cứu trên bình diện toàn quốc và các nghiên cứu trực tiếp tại tỉnh Hà Nam. Tác giả chỉ rõ các kết quả lý luận đã đạt được về khái niệm, vị trí nền tảng, chức năng và nhiệm vụ của TCCSĐ; đồng thời phân tích những giới hạn của các công trình đi trước khi tiếp cận cục bộ theo địa bàn hẹp hoặc theo từng loại hình tổ chức đơn lẻ. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ 5 vấn đề cốt lõi mà luận án tập trung giải quyết: làm rõ khung lý luận; phân tích bối cảnh đặc thù sau tái lập tỉnh; hệ thống hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh theo 3 nội dung chính trị, tư tưởng, tổ chức; đánh giá quá trình chỉ đạo thực hiện và rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 1997 đến năm 2005

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận chung về TCCSĐ, phân tích bối cảnh tái lập tỉnh và tái hiện quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng TCCSĐ trong 8 năm đầu sau tái lập.

Về bối cảnh và điều kiện thực tế khi tái lập tỉnh (01/01/1997): Hà Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều xáo trộn lớn về tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất. Tỉnh ủy lâm thời do Trung ương chỉ định. Toàn bộ cơ quan hành chính chưa có trụ sở làm việc cố định, phải thuê mượn địa điểm; ngân sách địa phương hạn hẹp.

Bảng tổng hợp đặc điểm kinh tế - xã hội và nhân sự tỉnh Hà Nam tại thời điểm tái lập (1997):

Tiêu chí Số liệu thực tế ghi nhận
Đơn vị hành chính 6 đơn vị (5 huyện: Kim Bảng, Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm và 1 thị xã: Phủ Lý)
Đơn vị cấp xã 114 xã, phường, thị trấn
Dân số 814.000 người; tín đồ Công giáo chiếm 12%; tổng tín đồ tôn giáo chiếm khoảng 23%
Cơ sở thờ tự tín ngưỡng (đến 2005) 1.552 cơ sở (520 đình làng, 247 đền, 371 miếu phủ, 224 từ đường dòng họ), diện tích 105,4 ha
Quy mô kinh tế (năm 1996) GDP bình quân 165 USD/người; cơ cấu: nông nghiệp 50%, dịch vụ 30%, công nghiệp - XD 20%
Lương thực Tổng sản lượng 325.000 tấn/năm; bình quân quy thóc đạt 400 kg/người
Tăng trưởng công nghiệp Tăng từ 8 - 10%/năm; thu ngân sách chỉ bảo đảm gần 40% chi ngân sách
Đội ngũ cán bộ chuyển từ Nam Hà về Khu vực quản lý Nhà nước: 180 người (17,81%); Sự nghiệp: 330 người (23,12%); Hành chính sự nghiệp: 510 người (20,9%)

Về công tác chính trị và giải quyết điểm nóng: Tỉnh ủy lâm thời ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU (12/01/1997) xác định 11 nhiệm vụ trọng tâm trước mắt. Tiếp đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành các chủ trương phát triển kinh tế: Chỉ thị 04-CT/TU (1997) về giao thông nông thôn; Chỉ thị 10-CT/TU (1998) về quản lý đất đai; Chỉ thị 15-CT/TU (2000) về chuyển đổi ruộng đất; Nghị quyết 01-NQ/TU (1998) về đổi mới hợp tác xã nông nghiệp; Nghị quyết 03-NQ/TU (2001) về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; Nghị quyết 08-NQ/TU (2003) về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; và Chỉ thị số 03-CT/TU (16/10/1998) về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Thực tiễn chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đạt được những kết quả cụ thể:

  • Trong nông nghiệp: Đến cuối năm 1999, 100% các hợp tác xã nông nghiệp hoàn thành chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã. Đến năm 2000, có 49/110 xã, thị trấn hoàn thành bước 2 chuyển đổi ruộng đất (dồn điền đổi thửa), đưa Hà Nam trở thành một trong những địa phương đi đầu cả nước về công tác này.
  • Xử lý điểm nóng chính trị - xã hội: Tỉnh ủy tập trung giải quyết tình trạng tê liệt hệ thống chính trị cơ sở tại làng Lác Nhuế (xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng); xử lý các vấn đề tôn giáo tại vùng giáo phận Kiện Khê (huyện Thanh Liêm); đồng thời chỉ đạo giải quyết dứt điểm 45 vụ việc mâu thuẫn, khiếu kiện kéo dài ở Đinh Xá (Bình Lục), Hòa Hậu, Đạo Lý, Hợp Lý (Lý Nhân), chùa Cảnh Phúc, Ninh Lão, Hoàng Đông, dự án PMU.1 Đồng Văn (Duy Tiên), Liêm Cần (Thanh Liêm) và các điểm đền bù giải phóng mặt bằng Quốc lộ 21A (Liêm Chung), Khu công nghiệp Châu Sơn (Phủ Lý), Khu công nghiệp Đồng Văn. Thường trực và Ban Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp xuống cơ sở dự sinh hoạt chi bộ, đối thoại trực tiếp với công dân.
  • Khối văn hóa - xã hội: Đến năm 2005, Hà Nam là một trong 10 tỉnh đầu tiên của cả nước có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Mạng lưới y tế cơ sở ghi nhận 62% trạm y tế cấp xã có bác sĩ, 35 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 100% hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc giấy khám chữa bệnh miễn phí.
  • Lãnh đạo hoạt động chính quyền: Ngày 20/7/1997, chỉ đạo bầu cử Quốc hội khóa X và bầu bổ sung HĐND tỉnh với 468.654 cử tri tham gia (đạt 99,78%). Ngày 19/5/2002 chỉ đạo bầu cử Quốc hội khóa XI. Ngày 25/4/2004 lãnh đạo bầu cử HĐND ba cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009 đạt tỷ lệ 99,23% cử tri đi bầu, bầu ra 3.098 đại biểu HĐND cấp xã.

Những hạn chế giai đoạn này: Một số TCCSĐ chấp hành nghị quyết chưa nghiêm, năng lực lãnh đạo kinh tế và quản lý đất đai còn bất cập; công tác cải cách hành chính chậm; phương thức lãnh đạo của cấp ủy ở một số nơi còn nặng tính hành chính, bao biện làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo.

Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ năm 2006 đến năm 2010

Chương 3 phân tích những yêu cầu mới xuất phát từ bối cảnh đất nước đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sau khi gia nhập WTO, các chủ trương từ Nghị quyết Đại hội X của Đảng và đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 khóa X (Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02/02/2008) về "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên". Tại Hà Nam, quá trình thu hồi đất xây dựng các khu, cụm công nghiệp (Đồng Văn, Châu Sơn) và đô thị hóa nhanh chóng làm phát sinh các mâu thuẫn về việc làm, bồi thường giải phóng mặt bằng và tư tưởng của người dân.

Nội dung chương tập trung phản ánh các chủ trương và sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Hà Nam trên ba phương diện:

  • Về chính trị: Tỉnh ủy tập trung định hướng TCCSĐ nâng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết chuyên đề, lãnh đạo phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ làng nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với quản lý trật tự đô thị và quản lý đất đai.
  • Về tư tưởng: Triển khai sâu rộng việc học tập các nghị quyết của Đảng, thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; chú trọng nắm bắt dư luận xã hội ở các địa bàn chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tăng cường đối thoại, phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống.
  • Về tổ chức: Rà soát, kiện toàn mô hình tổ chức đảng theo các loại hình TCCSĐ (xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp); đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; chuẩn hóa tiêu chuẩn cán bộ cơ sở; đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 tổng hợp các nhận xét, đánh giá toàn diện về ưu điểm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm:

  • Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh đã bám sát các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn địa phương vừa tái lập; giữ vững định hướng chính trị, củng cố được sự ổn định sau thời kỳ chia tách; từng bước giải quyết dứt điểm các điểm nóng phức tạp, củng cố niềm tin của nhân dân.
  • Hạn chế: Năng lực lãnh đạo toàn diện của một bộ phận TCCSĐ chưa đồng đều; chất lượng sinh hoạt chi bộ ở một số loại hình doanh nghiệp, nông thôn còn hình thức; việc kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm ở cơ sở chưa thực sự kiên quyết.
  • Năm bài học kinh nghiệm được rút ra:
    1. Luôn coi trọng lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng xây dựng nghị quyết đúng đắn, phù hợp với địa phương: Nghị quyết ban hành phải bám sát thực tiễn cơ sở, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp khả thi, tránh rập khuôn máy móc.
    2. Phát huy dân chủ thực chất trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng: Thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở, mở rộng dân chủ trong sinh hoạt chi bộ đi đôi với giữ vững kỷ cương, nguyên tắc tập trung dân chủ.
    3. Xây dựng, củng cố khối đoàn kết, thống nhất trong tổ chức cơ sở đảng là cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong hệ thống chính trị cơ sở và nhân dân: Giữ gìn sự đoàn kết nội bộ, trước hết là trong cấp ủy và đội ngũ cán bộ chủ chốt, loại bỏ tư tưởng cục bộ địa phương, bè phái.
    4. Luôn chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở: Chú trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa về chuyên môn, lý luận chính trị; giải quyết thỏa đáng chính sách cán bộ cơ sở.
    5. Dựa vào dân, phát huy vai trò của nhân dân để xây dựng tổ chức cơ sở đảng: Thường xuyên lắng nghe ý kiến phản ánh, khiếu nại của quần chúng, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đối với cán bộ, đảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập những đóng góp khoa học và thực tiễn:

  • Về phương pháp và cách tiếp cận: Luận án kết hợp cách tiếp cận lịch đại của chuyên ngành Lịch sử Đảng với cấu trúc phân tích đồng đại theo ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức của Khoa học Chính trị, mang lại cái nhìn toàn diện, khắc phục tình trạng nghiên cứu rời rạc.
  • Về nguồn tư liệu lịch sử: Luận án hệ thống hóa khối lượng lớn tài liệu thành văn lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Hà Nam, các ban đảng Tỉnh ủy và các huyện ủy, thành ủy trong giai đoạn 1997 - 2010. Khối tài liệu sơ cấp này phản ánh xác thực quá trình lãnh đạo, các số liệu kinh tế - xã hội, tổ chức cán bộ và giải quyết các điểm nóng trật tự xã hội.
  • Về nhận thức lịch sử: Tái hiện bức tranh đầy đủ về chặng đường 13 năm xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hà Nam sau khi tái lập tỉnh; làm rõ những khó khăn ban đầu về tổ chức bộ máy, sự xáo trộn tâm lý cán bộ, cũng như các nỗ lực giải quyết vấn đề nông nghiệp, tôn giáo, đô thị hóa.
  • Kiến nghị thực tiễn: 5 bài học kinh nghiệm do luận án đúc kết từ thực tiễn Hà Nam cung cấp căn cứ để cấp ủy các cấp vận dụng vào công tác xây dựng Đảng hiện nay, đặc biệt là các giải pháp xây dựng nghị quyết sát cơ sở, nâng cao năng lực cấp ủy viên và thực hiện dân chủ tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình: Phạm vi nghiên cứu của luận án dừng lại ở mốc năm 2010, chưa bao quát các diễn biến sau giai đoạn Đại hội XI và XII của Đảng khi có các Nghị quyết Trung ương 4 chuyên đề về xây dựng Đảng. Do nguồn tư liệu thành văn chủ yếu tập trung tại các cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh và huyện, mức độ khảo sát sâu tại từng chi bộ trực thuộc ở một số loại hình TCCSĐ mới (như doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) còn phụ thuộc vào dữ liệu lưu trữ hiện có của địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Kế thừa khung phân tích và nguồn sử liệu của luận án để tiếp tục mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 2011 đến nay; đi sâu nghiên cứu chuyên đề về từng loại hình TCCSĐ đặc thù trong các khu công nghiệp tập trung và các địa bàn đô thị hóa nhanh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Khoa học Chính trị: Tham khảo phương pháp tiếp cận kết hợp lịch đại với lát cắt ba mặt (chính trị, tư tưởng, tổ chức) và khung lý thuyết về chức năng, nhiệm vụ TCCSĐ.
  • Cán bộ lãnh đạo, cơ quan tham mưu cấp ủy (Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ủy ban Kiểm tra) tại tỉnh Hà Nam và các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng: Tham khảo các kinh nghiệm thực tế về xử lý khủng hoảng bộ máy sau chia tách địa giới, quy trình giải quyết mâu thuẫn khiếu kiện kéo dài và giải pháp dồn điền đổi thửa, xây dựng quy chế dân chủ cơ sở.
  • Các ban biên soạn lịch sử Đảng bộ địa phương: Cung cấp nguồn số liệu và biên niên sự kiện xác thực về Đảng bộ tỉnh Hà Nam giai đoạn 1997 - 2010.

Câu hỏi thường gặp

1. Sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997, Đảng bộ tỉnh Hà Nam gặp những khó khăn đặc thù nào về đội ngũ cán bộ và tổ chức bộ máy?
Khi chia tách tỉnh Nam Hà để tái lập tỉnh Hà Nam (01/01/1997), Đảng bộ tỉnh chưa tổ chức được đại hội mà hoạt động dưới sự chỉ định của Tỉnh ủy lâm thời. Về cơ sở vật chất, các cơ quan chưa có công sở, phải thuê mượn địa điểm làm việc. Đội ngũ cán bộ từ Nam Hà chuyển về vừa thiếu vừa mất cân đối nghiêm trọng: khu vực quản lý Nhà nước ở các sở, ngành có 180 người (17,81%); khu vực sự nghiệp có 330 người (23,12%); khu vực hành chính sự nghiệp có 510 người (20,9%). Nhiều cơ quan, ban, ngành không đủ nhân lực, thiếu cán bộ quản lý kinh tế - kỹ thuật có kinh nghiệm và thiếu tính kế thừa, đời sống sinh hoạt của cán bộ gặp nhiều thiếu thốn, nhiều người phải đi về Nam Định hàng ngày.

2. Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã áp dụng biện pháp cụ thể nào để tháo gỡ các điểm nóng chính trị - xã hội và khiếu kiện kéo dài trong giai đoạn 1997 - 2005?
Trước tái lập tỉnh, trên địa bàn có điểm nóng làng Lác Nhuế (xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng) khiến hệ thống chính trị cơ sở gần như tê liệt, cùng các điểm nóng tôn giáo tại khu vực nhà thờ xứ Kẻ Sở, thị trấn Kiện Khê (huyện Thanh Liêm). Để giải quyết, Thường trực Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã trực tiếp xuống địa bàn, dự sinh hoạt chi bộ, khảo sát hiện trường và đối thoại trực tiếp với công dân khiếu kiện. Qua đó, tỉnh đã giải quyết dứt điểm 45 vụ việc mâu thuẫn kéo dài tại các địa phương (Đinh Xá, Hòa Hậu, Đạo Lý, Hợp Lý, Liêm Cần) và các tranh chấp liên quan đến đền bù giải phóng mặt bằng Quốc lộ 21A (Liêm Chung), Khu công nghiệp Châu Sơn, Khu công nghiệp Đồng Văn, ngăn ngừa phát sinh điểm nóng mới.

3. TCCSĐ tại Hà Nam đã đạt được những kết quả cụ thể nào trong lãnh đạo phát triển nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ sở giai đoạn 1997 - 2000?
Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy (Nghị quyết 01-NQ/TU, Nghị quyết 03-NQ/TU, Chỉ thị 15-CT/TU), các TCCSĐ đã lãnh đạo chuyển đổi tổ chức quản lý hợp tác xã nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã, hoàn thành 100% vào cuối năm 1999. Trong công tác dồn điền đổi thửa, các TCCSĐ, nòng cốt là chi bộ thôn xóm, đã vận động nhân dân tháo gỡ khó khăn về đất đai manh mún; tính đến năm 2000, có 49/110 xã, thị trấn hoàn thành bước 2 chuyển đổi ruộng đất, đưa Hà Nam thành một trong những tỉnh đi đầu cả nước về dồn điền đổi thửa.

4. Trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội và hoạt động chính quyền cơ sở giai đoạn 1997 - 2005, TCCSĐ ở Hà Nam đã ghi nhận những chỉ số thực tế nào?
Đến năm 2005, dưới sự chỉ đạo của cấp ủy, 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (Hà Nam là một trong 10 tỉnh đầu tiên cả nước đạt tiêu chuẩn này). Trong y tế, 62% trạm y tế cấp xã có bác sĩ, 35 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 100% hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế hoặc giấy khám chữa bệnh miễn phí. Về hoạt động chính quyền, TCCSĐ lãnh đạo thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa X và HĐND tỉnh ngày 20/7/1997 (tỷ lệ cử tri đi bầu đạt 99,78%) và cuộc bầu cử HĐND ba cấp ngày 25/4/2004 (tỷ lệ cử tri bầu đạt 99,23%, bầu ra 3.098 đại biểu HĐND cấp xã).

5. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm trọng tâm nào cho công tác xây dựng TCCSĐ?
Luận án rút ra 5 kinh nghiệm: (1) Luôn coi trọng việc lãnh đạo TCCSĐ xây dựng nghị quyết đúng đắn, sát hợp với đặc thù cơ sở; (2) Phát huy dân chủ thực chất trong TCCSĐ gắn với thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở; (3) Giữ vững khối đoàn kết, thống nhất trong TCCSĐ, trước hết là trong cấp ủy và cán bộ chủ chốt; (4) Chú trọng xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở; (5) Dựa vào dân, phát huy vai trò giám sát của quần chúng và các đoàn thể nhân dân để xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Bình đã tái hiện toàn diện tiến trình lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng TCCSĐ từ năm 1997 đến năm 2010 trên cả ba phương diện chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bằng nguồn tư liệu thành văn phong phú được khai thác tại các cơ quan lưu trữ của Đảng bộ tỉnh, luận án đã làm rõ những nỗ lực ổn định tổ chức bộ máy, kiện toàn đội ngũ cán bộ, giải quyết các điểm nóng xã hội và lãnh đạo phát triển kinh tế sau thời điểm tái lập tỉnh. Các ưu điểm, hạn chế và 5 bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết có giá trị khoa học lịch sử vững chắc, đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn hữu ích cho công tác xây dựng Đảng ở cấp cơ sở hiện nay.