Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chất kích thích dạng Amphetamine (Amphetamine-Type Stimulants - ATS) đã trở thành một trong những vấn đề y tế và xã hội phức tạp trên phạm vi toàn cầu từ thập niên 1990. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2012, thế giới có khoảng 35 triệu người sử dụng ATS. Đến năm 2014, Báo cáo tình hình ma túy toàn cầu năm 2016 của Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) ghi nhận khoảng 247 triệu người sử dụng ma túy trái phép, trong đó có 35,7 triệu người sử dụng ATS và 19,4 triệu người sử dụng thuốc lắc (MDMA). Khoảng 29 triệu người sử dụng ma túy gặp phải các rối loạn tâm thần nhưng chỉ 1/6 trong số đó được tiếp cận điều trị y tế.

Tại Việt Nam, từ trường hợp sử dụng Methamphetamine dạng tinh thể ("đá") đầu tiên được ghi nhận vào năm 2008, thị trường chất kích thích tổng hợp đã gia tăng nhanh chóng. Đến năm 2010, ATS trở thành loại ma túy phổ biến thứ hai sau heroin và các chất dạng thuốc phiện, với xu hướng sử dụng "hàng đá" vượt trội so với dạng viên nén. Việc lạm dụng ATS liều cao và kéo dài dẫn tới những hậu quả thể chất và tâm thần nghiêm trọng. Các triệu chứng loạn thần do ATS (như hoang tưởng bị hại, kích thích gây gổ, ảo thanh chi phối) làm gia tăng nguy cơ bạo lực, tự sát, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của bệnh nhân, thân nhân và gây mất trật tự an toàn xã hội. Nghiên cứu của McKetin và cộng sự (2008) ghi nhận tỷ lệ loạn thần ở người sử dụng ATS cao gấp 11 lần so với dân số chung. Nhằm cung cấp dữ liệu lâm sàng và dịch tễ học thực chứng phục vụ công tác điều trị và hoạch định chính sách can thiệp, khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa (Khoa Y – Đại học Quốc gia TP.HCM, năm 2018) đã thực hiện đề tài nghiên cứu về nhóm đối tượng này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định đặc điểm lâm sàng chứng loạn thần và yếu tố dân số xã hội học liên quan ở bệnh nhân sử dụng chất dạng Amphetamine tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu: các yếu tố dân số xã hội học.
    2. Phân loại các triệu chứng loạn thần ở bệnh nhân sử dụng chất dạng Amphetamine điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM.
    3. Xác định mối liên quan giữa các triệu chứng loạn thần với giới tính, tuổi, trình độ học vấn, cách dùng, thời gian sử dụng chất dạng Amphetamine.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán rối loạn loạn thần do sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine (mã F15 theo ICD-10), điều trị nội trú và ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu từ ngày 15/09/2017 đến ngày 30/04/2018 (khóa luận bảo vệ tháng 05/2018).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phân loại dược lý

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở dược lý học thần kinh của nhóm ATS, bao gồm:

  • Phân loại chất: Khảo cứu lịch sử tổng hợp và cấu trúc hóa học của Amphetamine ($C_9H_{13}N$, tổng hợp năm 1887), Methamphetamine ($C_{10}H_{15}N$, tổng hợp năm 1920 từ ephedrine), MDMA ($C_{11}H_{15}NO_2$, tổng hợp năm 1912), cùng các dẫn xuất như MDA, MDEA, MMDA.
  • Dược động học (Methamphetamine): Tỷ lệ hấp thu qua các đường dùng gồm uống (62,7%), hít trực tiếp (79%), đốt - hít (90,3%), trực tràng (99%) và tiêm tĩnh mạch (100%). Methamphetamine tan trong lipid, vượt qua hàng rào máu - não nhanh chóng, chuyển hóa tại gan, thải trừ qua thận với thời gian bán hủy ($T_{1/2}$) từ 9 - 12 giờ.
  • Dược lực học và cơ chế sinh loạn thần: ATS tác động kích thích giải phóng đồng thời ức chế tái hấp thu 3 chất dẫn truyền thần kinh monoamine tại khe synap: Dopamine (DA), Norepinephrine (NE) và Serotonin (5-HT). Trong đó:
    • Tác động trên thụ thể Dopamine tại con đường khen thưởng giải thích hành vi tìm kiếm chất và sự phát sinh các triệu chứng hoang tưởng, rối loạn nhận thức.
    • Tác động trên Norepinephrine gây hưng phấn, tăng xu hướng đối đầu, kích động, lo âu, bồn chồn.
    • Tác động trên Serotonin gây biến đổi khí sắc, rối loạn cảm giác và ảo giác.
    • Khác biệt dược lý: Amphetamine tăng phóng thích DA và NE (yếu trên 5-HT); Methamphetamine tác động mạnh theo thứ tự 5-HT > DA > NE; MDMA tăng phóng thích NE > DA > 5-HT và đảo ngược chất vận chuyển monoamine qua cơ chế phosphoryl hóa.
  • Khung phân loại triệu chứng lâm sàng: Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất kích thích khác bao gồm cafein (mã F15) theo Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10) của WHO, phân chia thành 4 nhóm hội chứng lâm sàng: rối loạn hoang tưởng, rối loạn ảo giác, rối loạn cảm xúc và rối loạn hành vi - tác phong.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích (Cross-sectional descriptive and analytical study).
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu:
    • Cỡ mẫu lý thuyết tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% ($\alpha = 0,05$, $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số cho phép $d = 0,05$, tỷ lệ hoang tưởng tham chiếu $p = 0,897$ (theo nghiên cứu năm 2013 của Trần Thị Hồng Thu tại Viện Sức khỏe Tâm thần Trung ương), cho kết quả $n = 142$.
    • Thực tế triển khai: Thu thập toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu, đạt cỡ mẫu thực tế phân tích là $N = 110$ bệnh nhân. Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn.
  • Tiêu chuẩn chọn vào: Bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM từ 15/09/2017 đến 30/04/2018; được chẩn đoán loạn thần do ATS; triệu chứng liên quan trực tiếp đến sử dụng ATS; bệnh nhân và thân nhân đồng ý tham gia.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Loạn thần do sử dụng phối hợp các chất ma túy khác (heroin, cần sa...); có tổn thương thực thể ở não; có tiền sử rối loạn tâm thần trước khi sử dụng ATS; đang mắc các bệnh nội khoa hệ thống nặng (suy gan, suy thận, nhiễm khuẩn cấp tính nặng).
  • Thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ phiếu khảo sát chuyên biệt được thiết kế theo mục tiêu; thu thập thông tin qua thăm khám lâm sàng trực tiếp kết hợp phỏng vấn sâu bệnh nhân và thân nhân người bệnh.
  • Xử lý số liệu: Nhập liệu, mã hóa và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0. Thống kê mô tả bằng tần số, tỷ lệ phần trăm (biến định tính), giá trị trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn ($\bar{X} \pm SD$) hoặc trung vị (biến định lượng). Thống kê suy luận xác định mối tương quan bằng kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$), tỷ số tỷ lệ hiện mắc (Prevalence Ratio - PR) với khoảng tin cậy 95% (95% CI); ngưỡng ý nghĩa thống kê xác định tại $p < 0,05$.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề cương được Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Khoa Y – ĐHQG TP.HCM thông qua; tôn trọng quyền tự nguyện tham gia; bảo mật tuyệt đối danh tính và dữ liệu khảo sát của người bệnh.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề và Mục tiêu nghiên cứu

Phần mở đầu nêu rõ tính cấp bách của tình hình sử dụng ma túy tổng hợp ATS tại Việt Nam và trên thế giới. Tác giả chỉ ra sự chuyển dịch từ ma túy truyền thống sang ATS dạng đá, đồng thời nhấn mạnh tính chất nguy hiểm của các hành vi bạo lực, giết người, tự sát do triệu chứng loạn thần chi phối. Khóa luận xác lập 1 mục tiêu tổng quát và 3 mục tiêu cụ thể nhằm làm sáng tỏ dịch tễ học và các biểu hiện lâm sàng tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 cung cấp tổng quan toàn diện về:

  • Lịch sử phát minh, quy chế kiểm soát chất (Đạo luật kiểm soát chất của Hoa Kỳ năm 1971, quyết định kiểm soát MDMA của DEA năm 1985) và sự lan rộng của "văn hóa thuốc lắc", "hàng đá".
  • Dược động học và dược lực học chi tiết của Methamphetamine và các dẫn xuất Amphetamine, cơ chế tác động lên các hệ thống dẫn truyền thần kinh trung ương (Dopamine, Norepinephrine, Serotonin).
  • Bệnh học lâm sàng tâm thần theo ICD-10: định nghĩa, phân loại hoang tưởng (bị hại, liên hệ, bị chi phối, ghen tuông, tự buộc tội, nghi bệnh, tự cao, phát minh), ảo giác (ảo thanh thô sơ, ảo thanh rõ rệt, ảo thị, ảo xúc, ảo vị, ảo khứu), các rối loạn cảm xúc (trầm cảm, hưng cảm, lưỡng cực) và rối loạn hành vi - tác phong.
  • Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước: nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thu (2011–2013 tại Viện Sức khỏe Tâm thần) trên 117 bệnh nhân; nghiên cứu của McKetin (2008); nghiên cứu trên tạp chí JAMA (2014); số liệu điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bạch Mai; nghiên cứu quốc tế của Iwanami (Nhật Bản, 1994), Srisurapanont (đa quốc gia gồm Úc, Nhật, Philippines, Thái Lan, 2003) và Akiyama (2006).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, địa điểm nghiên cứu tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM từ tháng 09/2017 đến tháng 04/2018. Chương này định nghĩa rõ ràng danh mục 17 biến số nghiên cứu (dân số xã hội học, tiền căn gia đình/bạn bè nghiện ngập, biến cố tiêu cực cuộc sống, lý do sử dụng, thời gian và phương thức sử dụng, các biến số triệu chứng lâm sàng), công thức tính cỡ mẫu, tiêu chuẩn chọn và loại trừ, quy trình thu thập và các thuật toán phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 20.0 cùng cam kết đạo đức y sinh.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ $N = 110$ bệnh nhân, chia thành ba nhóm kết quả chính:

  1. Đặc điểm dân số xã hội và tiền sử sử dụng: Phân bố độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân, tiền căn gia đình, thời gian dùng thuốc và đường dùng.
  2. Đặc điểm lâm sàng các hội chứng loạn thần: Tỷ lệ xuất hiện và cơ cấu chi tiết của từng dạng hoang tưởng, ảo giác, rối loạn cảm xúc, rối loạn hành vi, cũng như sự kết hợp đồng thời giữa các hội chứng.
  3. Mối liên quan giữa các yếu tố xã hội và triệu chứng: Phân tích tương quan giữa biến cố đời sống, thời gian xuất hiện loạn thần, tiền căn gia đình với sự phát triển của hoang tưởng, rối loạn hành vi và rối loạn cảm xúc.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 đối chiếu các phát hiện lâm sàng của nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế. Tác giả lý giải các tỷ lệ áp đảo của nam giới, độ tuổi thanh niên, đường dùng đốt - hít; phân tích nguyên nhân hoang tưởng bị hại và ảo thanh chiếm ưu thế do tác động tăng dopamine tại thể vân và vỏ não; đồng thời thảo luận ý nghĩa của các chỉ số nguy cơ tương đối ($PR$) đối với công tác tiên lượng và can thiệp điều trị tâm thần học.


Kết quả và đóng góp

1. Đặc điểm dịch tễ và hành vi sử dụng ATS ($N = 110$)

Đặc điểm biến số Phân nhóm chỉ số Số lượng ($n$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 103 93,6%
Nữ 7 6,4%
Nhóm tuổi $< 19$ tuổi 4 3,6%
($\bar{X} \pm SD = 30 \pm 6$ tuổi) 20 – 29 tuổi 47 42,7%
30 – 39 tuổi 53 48,2%
$\ge 40$ tuổi 6 5,5%
Tình trạng hôn nhân Độc thân / Ly hôn 77 70,0%
Đã kết hôn / Sống chung 33 30,0%
Trình độ học vấn Cấp 1 (Tiểu học) 40 36,3%
Cấp 2 (THCS) 37 33,6%
Không đi học 10 9,1%
Cấp 3 (THPT) / Sau PTTH 23 21,0% (Sau PTTH: 5,5%)
Tình trạng nghề nghiệp Có việc làm 63 57,3%
Không có việc làm 47 42,7%
Lý do bắt đầu sử dụng Có người rủ rê, lôi kéo 88 80,0%
Buồn chán, tự tìm hiểu 19 17,3%
Khác 3 2,7%
Đường sử dụng ATS Hút (đốt - hít) 102 92,7%
Uống 6 5,5%
Khác 2 1,8%
Địa điểm & Hình thức Tụ điểm sử dụng 64 58,2%
Tại nhà 40 36,4%
Sử dụng tập thể 56 50,9%
Sử dụng một mình 42 38,2%
Thời gian dùng ATS $1 - 3$ năm 63 57,3%
($\bar{X} \pm SD = 4 \pm 3$ năm) $> 3$ năm 34 30,9%
$< 1$ năm 13 11,9%
Thời gian khởi phát loạn thần $1 - 12$ tháng 49 44,5%
($\bar{X} \pm SD = 1,3 \pm 1,6$ năm) $> 12$ tháng 46 41,8%
$< 1$ tháng 15 13,6%

2. Đặc điểm lâm sàng các hội chứng loạn thần

  • Tỷ lệ các hội chứng chính: Hoang tưởng chiếm tỷ lệ cao nhất với 83,6% (92 bệnh nhân), tiếp đến là Rối loạn hành vi - tác phong chiếm 80,9% (89 bệnh nhân), Rối loạn ảo giác chiếm 72,7% (80 bệnh nhân) và Rối loạn cảm xúc chiếm 43,6% (48 bệnh nhân ghi nhận tại bảng tổng hợp chung / 58-62 ca phân tích đơn lẻ).
  • Chi tiết rối loạn hoang tưởng ($n = 92$):
    • Hoang tưởng bị hại phổ biến nhất: 53,2% (74 ca).
    • Hoang tưởng liên hệ: 23,0% (32 ca).
    • Hoang tưởng bị chi phối: 10,1% (14 ca).
    • Hoang tưởng ghen tuông: 4,3% (6 ca), nghi bệnh: 3,6% (5 ca), tự buộc tội: 3,6% (5 ca), tự cao: 2,2% (3 ca).
    • Số lượng hoang tưởng: 60,8% bệnh nhân có 1 hoang tưởng; 31,5% có 2 hoang tưởng; 7,7% có $\ge 3$ hoang tưởng.
  • Chi tiết rối loạn ảo giác ($n = 80$):
    • Ảo thanh chiếm ưu thế tuyệt đối: 82,6% (76 ca).
    • Ảo thị: 10,9% (10 ca).
    • Ảo xúc giác, ảo vị và ảo khứu mỗi loại chiếm 2,2% (2 ca).
    • Số lượng ảo giác: 76,3% bệnh nhân xuất hiện 1 loại ảo giác; 21,3% xuất hiện 2 loại; 2,4% xuất hiện $\ge 3$ loại ảo giác.
  • Chi tiết rối loạn cảm xúc và sự kết hợp triệu chứng:
    • Trong số các ca có rối loạn cảm xúc ($n = 58$): Rối loạn trầm cảm chiếm 45,2% (28 ca), rối loạn hưng cảm chiếm 41,9% (26 ca), rối loạn lưỡng cực chiếm 12,9% (8 ca).
    • Sự kết hợp lâm sàng: Hình thái kết hợp Hoang tưởng + Ảo giác chiếm đa số với 66,4% (73 ca). Hoang tưởng đi kèm hưng cảm chiếm 20,9% (23 ca); hoang tưởng đi kèm trầm cảm chiếm 20,0% (22 ca). Dạng đơn độc rất hiếm gặp (hoang tưởng đơn độc chiếm 1,8% - 2 ca; không ghi nhận ca nào có ảo giác đơn độc 0,0%).
  • Chi tiết rối loạn hành vi ($n = 89$):
    • Kích thích, gây gổ chiếm tỷ lệ cao nhất: 46,1% (59 ca).
    • Hành vi gây nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng: 23,4% (30 ca).
    • Hành vi thiếu hòa hợp chiếm 18,8% và giảm vận động chiếm 11,8% (15 ca).

3. Mối liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$)

Cặp biến số tương quan Nhóm so sánh Tỷ lệ triệu chứng (%) Tỷ số PR (95% CI) Giá trị $p$
Biến cố tiêu cực & Hoang tưởng Có biến cố tiêu cực
Không có biến cố
96,2% (25/26)
79,8% (67/84)
$PR = 1,21$
(1,06 – 1,38)
$p < 0,05$
Thời gian dùng đến khi loạn thần & Rối loạn hành vi $> 12$ tháng
$1 - 12$ tháng
$< 1$ tháng (tham chiếu)
89,1% (41/46)
81,6% (40/49)
53,3% (8/15)
$PR = 1,67$ (1,03 – 2,70)
$PR = 1,53$ (0,93 – 2,49)
$1,00$
$p < 0,05$
Thời gian dùng đến khi loạn thần & Rối loạn hoang tưởng $1 - 12$ tháng
$> 12$ tháng
$< 1$ tháng (tham chiếu)
91,8% (45/49)
82,6% (38/46)
60,0% (9/15)
$PR = 1,53$ (1,002 – 2,335)
$PR = 1,38$ (0,89 – 2,12)
$1,00$
$p < 0,05$
Tiền căn gia đình/bạn bè & Rối loạn cảm xúc Có tiền căn nghiện/bạc
Không có tiền căn
57,9%
35,5%
$PR = 1,54$ $p < 0,05$

Đóng góp của nghiên cứu và kiến nghị đề xuất

  • Đóng góp khoa học: Cung cấp bộ dữ liệu lâm sàng hệ thống về người sử dụng ATS nhập viện tại khu vực phía Nam Việt Nam; chứng minh mối liên hệ giữa thời gian sử dụng, biến cố tâm lý xã hội với mức độ trầm trọng của hội chứng hoang tưởng và hành vi kích động gây nguy hiểm.
  • Khuyến nghị thực tiễn:
    • Nhấn mạnh sự cần thiết phải sàng lọc triệu chứng hoang tưởng bị hại và ảo thanh ở bệnh nhân sử dụng ATS để phòng ngừa sớm các hành vi bạo lực và tự sát.
    • Tăng cường phối hợp liên ngành giữa y tế chuyên khoa tâm thần, gia đình và cơ quan quản lý xã hội trong việc truyền thông tác hại của ma túy đá, tập trung vào đối tượng thanh niên (20 - 39 tuổi).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả tại một trung tâm chuyên khoa (Bệnh viện Tâm thần TP.HCM) nên mẫu nghiên cứu chủ yếu đại diện cho nhóm bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tâm thần mức độ nặng phải nhập viện điều trị, chưa bao quát toàn bộ người sử dụng ATS trong cộng đồng.
    • Cỡ mẫu phân tích thực tế ($N = 110$) thấp hơn cỡ mẫu tính toán lý thuyết ban đầu ($n = 142$) do giới hạn về thời gian thu thập dữ liệu và tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt (loại trừ các trường hợp đa sử dụng chất và có bệnh lý thực thể phối hợp).
    • Thu thập thông tin về thời gian sử dụng, liều lượng và tiền căn dựa vào phỏng vấn hồi cứu từ bệnh nhân và thân nhân nên có thể chịu ảnh hưởng nhất định của sai số nhớ lại (recall bias).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng các nghiên cứu thuần tập tiến cứu theo dõi dọc nhằm đánh giá hiệu quả đáp ứng điều trị của các phác đồ chống loạn thần trên bệnh nhân sử dụng ATS.
    • Nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố nguy cơ tái phát loạn thần sau khi xuất viện và mối liên quan giữa nồng độ chất trong máu/nước tiểu với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho:

  • Sinh viên Y đa khoa, bác sĩ nội trú và học viên chuyên khoa Tâm thần: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về dược lý học ATS, các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng theo ICD-10 và bảng phân loại chi tiết các dạng hoang tưởng, ảo giác do chất kích thích.
  • Bác sĩ điều trị và cán bộ y tế tại các cơ sở cai nghiện, bệnh viện tâm thần: Tham khảo số liệu thực tế về tỷ lệ triệu chứng (đặc biệt là 82,6% ảo thanh, 53,2% hoang tưởng bị hại, 46,1% kích thích gây gổ) để xây dựng quy trình tiếp nhận, đánh giá nguy cơ bạo lực và xử trí cấp cứu an toàn.
  • Người làm nghiên cứu dịch tễ học và phòng chống tệ nạn xã hội: Sử dụng các chỉ số tương quan ($PR$) về biến cố tiêu cực, tiền sử gia đình và thời gian lạm dụng chất để làm dữ liệu nền cho các nghiên cứu can thiệp cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh nhân loạn thần do ATS trong nghiên cứu có đặc điểm nhân khẩu học nổi bật nào?

Bệnh nhân chủ yếu là nam giới (chiếm 93,6%, tỷ lệ nam/nữ là 14,7:1), độ tuổi tập trung từ 20 đến 39 tuổi chiếm 90,9% (tuổi trung bình $30 \pm 6$ tuổi). Đa số bệnh nhân đang trong tình trạng độc thân hoặc đã ly hôn (70,0%) và có trình độ học vấn ở mức tiểu học hoặc trung học cơ sở (chiếm 69,9%).

2. Triệu chứng loạn thần nào xuất hiện phổ biến nhất ở bệnh nhân sử dụng ATS?

Rối loạn hoang tưởng là triệu chứng phổ biến nhất, xuất hiện ở 83,6% bệnh nhân (92/110 ca). Trong đó, hoang tưởng bị hại chiếm tỷ lệ cao nhất (53,2%), theo sau là hoang tưởng liên hệ (23,0%) và hoang tưởng bị chi phối (10,1%).

3. Tỷ lệ xuất hiện ảo giác và dạng ảo giác chiếm ưu thế trong nghiên cứu là gì?

Rối loạn ảo giác xuất hiện ở 72,7% bệnh nhân (80/110 ca). Dạng ảo giác chiếm ưu thế tuyệt đối là ảo thanh (chiếm 82,6% trong nhóm có ảo giác), trong khi ảo thị chỉ chiếm 10,9%, các dạng ảo xúc giác, ảo vị và ảo khứu rất hiếm gặp (mỗi loại chiếm 2,2%).

4. Thời gian sử dụng ATS ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ xuất hiện rối loạn hành vi và hoang tưởng?

Thời gian sử dụng ATS có mối liên quan thuận có ý nghĩa thống kê với mức độ phát sinh triệu chứng:

  • Bệnh nhân xuất hiện triệu chứng loạn thần sau khi sử dụng ATS $> 12$ tháng có tỷ lệ rối loạn hành vi cao gấp 1,67 lần ($PR = 1,67$; 95% CI: 1,03 – 2,70) so với nhóm xuất hiện loạn thần dưới 1 tháng.
  • Bệnh nhân xuất hiện loạn thần sau $1 - 12$ tháng sử dụng có tỷ lệ mắc rối loạn hoang tưởng cao gấp 1,53 lần ($PR = 1,53$; 95% CI: 1,002 – 2,335) so với nhóm dưới 1 tháng.

5. Yếu tố biến cố tiêu cực trong cuộc sống có liên quan gì đến rối loạn hoang tưởng?

Ở nhóm bệnh nhân có trải qua biến cố tiêu cực trong cuộc sống (gia đình ly tán, thất bại công việc...), tỷ lệ mắc rối loạn hoang tưởng lên tới 96,2%, cao hơn đáng kể so với nhóm không có biến cố tiêu cực (79,8%). Bệnh nhân sử dụng ATS có biến cố tiêu cực có nguy cơ mắc rối loạn hoang tưởng cao gấp 1,21 lần ($PR = 1,21$; 95% CI: 1,06 – 1,38; $p < 0,05$).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp Y đa khoa đã mô tả toàn diện thực trạng lâm sàng và dịch tễ học trên 110 bệnh nhân loạn thần do sử dụng chất kích thích dạng Amphetamine tại Bệnh viện Tâm thần TP.HCM. Kết quả khẳng định nhóm bệnh nhân chủ yếu là nam giới trẻ tuổi, sử dụng qua đường đốt - hít, với biểu hiện lâm sàng nổi bật là sự kết hợp giữa hoang tưởng bị hại, ảo thanh và các hành vi kích thích gây gổ nguy hiểm. Nghiên cứu xác lập mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa thời gian sử dụng chất, biến cố tiêu cực đời sống với nguy cơ phát triển các triệu chứng hoang tưởng và rối loạn hành vi. Đây là cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị cho công tác chẩn đoán, can thiệp điều trị tâm thần học và định hướng các biện pháp phòng ngừa lạm dụng ma túy tổng hợp.