Mở đầu xã hội đã được hình thành, nó nhằm mục đích Phát triển xã hội và quản lý quá trình này xác định các điều khoản mà xã hội đó sẽ được là mối quan tâm đặc biệt của các nhà lãnh quản lý: người dân có một khế ước với với nhà đạo, các nhà hoạch định chính sách ở tất cả cai trị (ruler) cua ho để xác định mối quan hệ mọi quốc gia. Ở Việt Nam, đây cũng là một của họ với nhà cai trị. Họ cam kết tuân thủ trong 15 nội dung quan trọng của Báo cáo nhà cai trị, trong khi nhà cai trị hứa sẽ bảo vệ Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương người dân và có một chính phủ tốt. Nhà cai trị khóa XI tại Đại hội XII của Đảng Cộng sản cũng như người dân cùng có phần của mình _ Việt Nam.
Với tiêu dé “Quan ly phát triển xã trong khế ước này, nhưng nếu nhà cai trị hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội”, nội không quản lý tốt thì khế ước bị phá vỡ và sự dung thứ 8 của Báo cáo Chính trị đã đánh giá trung thành của người dân kết thúc”!, tình hình để trên cơ sở đó vạch ra những định Trong những phát triển gần đây hơn của hướng, nhiệm vụ để hoàn thiện việc quản lý lý luận liên quan đến quản lý xã hội, quản trị phát triển xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn quốc gia được định nghĩa là quá trình mà hiện nay. Như vậy khái niệm Quản lý phát nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý tương triển xã hội lần đầu tiên được đưa vào trong tác với người dân và/hay với các đại diện của văn kiện quan trọng nhất của Đảng, được họ là các chủ thể phi nhà nước (non-state trình bày tại Đại hội XII. Điều này thể hiện actors), bao gồm đại diện của các nhóm trong cách tiếp cận mới trong quản trị phát triển xã hội: doanh nghiệp - đại diện cho giới chủ quốc gia. doanh nghiệp, công đoàn - đại diện cho người Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng lao động, các tổ chức chính trị, xã hội.
để chỉ rõ “Nhiều lĩnh vực của phát triển bền vững thiết kế và thực hiện các chính sách trong chưa được nghiên cứu đầy đủ. Quản lý phát khuôn khổ các quy tắc chính thức và không triển xã hội chưa xác định rõ định hướng và chính thức”. Nhìn lại lịch sử, khi các tương những nhiệm vụ mang tính tổng thể, đồng bộ, tác giữa các cá nhân được thực hiện lặp đi lặp liên vùng, liên ngành, liên lĩnh vực, còn bị chia Nguyễn Quang Thuấn, GS., Viện Hàn lâm Khoa cắt theo địa giới hành chính, lĩnh vực quản lý”. học xã hội Việt Nam.
(1936), The Social Contract - Khé udc x4 héi, Oxford: Clarendon Press. Một trong những định nghĩa về quan ly su 2. Thể chế bao gồm những ràng buộc phi chính thức phát triển xã hội là quá trình mà nhà nước (điều được thừa nhận hay cấm đoán theo phong tục, tập (chủ thể quản lý) tương tác với người dân quán, truyền thống, đạo lý), những quy tắc chính thức thông qua khế ước xã hội (social contract): (hiến pháp, luật) và hiệu lực thực thi chúng (Nguồn: North, Douglass (1992), Transaction costs, institutions, “Nói chung, khế ước xã hội không liên quan gì and economic performance - Chi phí giao dịch, thể chế đến nguồn gốc của xã hội, nhưng, giả sử một và hiệu quả kinh tế. Nghiên cứu Kinh tế số 4(479) - Tháng 4/2018 Mô hình quản lý sự nhát triển.
lại trong phạm vi một cộng đồng hay mạng là phát triển cũng vẫn tồn tại những bất ổn lưới quan hệ hẹp thì các thể chế phi chính trong phát triển. Điều này cho thấy là mặc thức tỏ ra khá hiệu quả. Tuy nhiên khi các dù lý thuyết về quản lý xã hội có những nội tương tác, giao dịch trao đổi diễn ra trên diện dung mang tính phổ quát song cũng có rộng ở cấp độ toàn bộ xã hội thì cần đến các những nội dung phải phù hợp với những thể chế chính thức, với vai trò quan trọng của điều kiện đặc thù của từng quốc gia. Trong nhà nước.
từng quốc gia, các điều kiện cũng thay đổi Trong thực tế trên thế giới cũng có nhiều theo thời gian, đòi hỏi mô hình quản lý sự cách thức, mô hình, con đường khác nhau phát triển xã hội cũng phải luôn được điều trong quản lý phát triển xã hội với những kết chỉnh để phù hợp với những thay đổi gắn quả cũng rất đa dạng. Có những nước thành với từng giai đoạn phát triển. Như vậy, một công với tăng trưởng nhanh và bền vững, có mô hình quản lý phát triển xã hội phải dựa những quốc gia tăng trưởng trì trệ kéo dài, trên: () mục tiêu phát triển của quéc gia; (ii) nhưng cũng có những nước sau những bước sự thay đổi cơ cấu của xã hội; (ii) chất lượng tiến thần kỳ lại rơi vào khủng hoảng, tụt thể chế và năng lực quản trị quốc gia, đặc hậu. Ngay cả trong những quốc gia được coi biệt là những bất cập cần điều chỉnh.
HÌNH 1: Quản lý sự phát triển xã hội: một mô hình phổ quát đơn giản Mục tiêu phát triển quốc gia Nhanh và bền vững Hội nhập - Hiệp định quốc tế _= ~ - FDI 4 oH É CHẾ CHÍNH THỨC ia” SUadVn VAGNCAUINDD OSES RED LUAT PHAP i beng THE CHE : PHICHINH THOT : W lv Á., KH Y1 sxsez 8 Pa “ về. — ; rs ss ; io Chu thé phi nhà nước Nhà nước Người dân Hiệp hội, tổ chức Chủ thể quản lý Cơ cấu xã hội chính trị xã hội Chủ thích: + Xe favig L5 Rang. t4» lLiA=3 số: Nguồn: Tác giả xây dựng trên cơ sở tổng quan tư liệu. Liên quan đến mục tiêu, một mô hình lượng cuộc sống của mọi người dân.
Mỗi quản lý phát triển xã hội tốt là mô hình quốc gia trong từng giai đoạn lại có những mà ở đó các thể chế và nền quản trị nhà mục tiêu ưu tiên khác nhau do cố những nước vận hành có hiệu quả để hướng các điểm nghẽn phát triển khác nhau. Ví dụ chủ thể đạt được mục tiêu chung đối với sự như ở những nước mà điểm nghẽn đối với phát triển của quốc gia, đó là đem lại sự phát triển là năng lực công nghệ và đổi phồn vinh cho đất nước và cải thiện chất mới sáng tạo hạn chế, thì cần có những thể 4 Nghiên cứu Kinh tế số 4(479) - Tháng 4/2018 Mô hình quản lý sự nhát triển. chế và phương thức quản trị nhà nước phù Lién quan dén vai trò của cơ cấu xã hội hợp để nâng cao năng lực hấp thụ công trong mô hình quản lý sự phát triển xã hội, nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Trong trong nhiều thập kỷ, các học giả và những khi đó ở những nước có điểm nghẽn đối với người làm chính sách đã nhìn nhận thể chế sự phát triển là bất bình đẳng gia tăng bao gồm không những chỉ các quy định nhanh do công nghệ phát triển nhanh đến (“luat chơi”) mà còn có cả chủ thể quản lý mức có thể gây ra xáo trộn xã hội thì lại (nhà nước) và các chủ thể phi nhà nước cần những thể chế hoàn toàn khác, trong (người chơi”).
Cơ cấu và hành vi của người đó chú trọng vào việc phân bổ lại những lợi dân và các chủ thể phi nhà nước lại phụ ích của cuộc cách mạng công nghệ cho thuộc vào cơ cấu xã hội, bao gồm các nhóm những người ít kỹ năng do họ bị bỏ lại khác nhau trong xã hội mà các chủ thể phi phía sau trong quá trình này. Ở những nhà nước làm đại diện (doanh nghiệp, các tổ quốc gia có nhiều xung đột xã hội thì các chức chính trị, xã hội. thể chế, chính sách cần tập trung ưu tiên Gần đây, để lý giải hiện tượng phát triển để ổn định chính trị, xã hội cho dù các thể mạnh mẽ của Đông Á nói chung và sự trỗi chế, chính sách này có thể không phải là dậy của Trung Quốc nói riêng —- nhóm quốc tối ưu nhất trong việc thúc đẩy tăng gia chiếm khoảng 1⁄4 dân số thế giới, có thể trưởng kinh tế. Điều này cho thấy tại sao chế được đánh giá là không so sánh được với trong thời gian gần đây có sự thay đổi đáng kể quan điểm của giới học thuật và thể chế vượt trội của nhóm các nước OECD các tổ chức phát triển là các quốc gia cần còn lại”, các lý thuyết về thể chế và quản trị những thể chế và nền quản trị nhà nước đưa thêm chiều cạnh thứ ba vào, đó là cách phù hợp nhất (best fit) chứ không phải chơi - mức độ tuân thủ các quy định - tức là vượt trội nhất (best practice) trong mô “chơi đúng”; mức độ phối hợp với nhau — tức hình quan lý phát triển xã hộiô.
là “chơi hiệu quả”; mức độ hợp tác với nhau - tức là “chơi đẹp”. Về mặt lý luận, quản lý sự phát triển xã hội một cách Với cách tiếp cận như vậy, các chủ thể phi hiệu quả vừa là một trong những mục nhà nước đại diện cho các nhóm khác nhau tiêu vừa là một công cụ quan trọng để giúp đạt được các mục tiêu khác trong xã hội đóng vai trò hết sức quan trọng mà xã hội với nhà nước là người đại diện trong quản lý sự phát triển của xã hội theo ít mong muốn đạt được. Nói cách khác, quản nhất ba góc cạnh: @) ảnh hưởng đến quá lý xã hội vừa có giá trị nội tại (intrinsic trình bầu ra các cơ quan nhà nước là chủ thể value) vừa có giá tri céng cu (instrumental quản lý, (1) tương tác với các cơ quan này để value). Trén thé giới, việc các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDGs) được nhiều 3.
World Bank (2017), Governance and the Law: nước thành viên của Liên hợp quốc phê World Development Report 2017 - Quan trị và luật pháp: Báo cáo Phát triển thế giới năm 2017, tr 11. chuẩn trong thời gian gần đây là một ví dụ 4. Một nghịch lý (paradox) tạo được sự chú ý của các của những nỗ lực nhằm đặt ra các mục nhà nghiên cứu là tham những - một chỉ số đo chất lượng tiêu chung cho tiến bộ kinh tế xã hội.