Tài liệu Y tế: Nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành của trẻ vị thành

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phá thai ở trẻ vị thành niên tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2018, phân tích các yếu tố ảnh hưởng.

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của sức khỏe sinh sản vị thành niên

Sức khỏe sinh sản vị thành niên là một lĩnh vực y tế quan trọng liên quan đến các vấn đề sức khỏe của trẻ vị thành niên từ 10-19 tuổi. Giai đoạn này là thời kỳ nhạy cảm khi cơ thể, tâm lý và hành vi của trẻ trải qua những thay đổi lớn. Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản giúp trẻ vị thành niên có những quyết định an toàn và chuẩn bị tốt cho tương lai. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2018 đã chứng minh rằng các vị thành niên có kiến thức tốt về sức khỏe sinh sản sẽ có thái độ trách nhiệm hơn và thực hiện các hành vi an toàn trong đời sống.

1.1. Định nghĩa vị thành niên và đặc điểm sinh lý

Vị thành niên là giai đoạn từ 10-19 tuổi, bao gồm quá trình dậy thì và phát triển sinh dục. Đây là thời kỳ cơ thể trải qua những thay đổi sinh lý đáng kể, tâm lý phát triển, tính độc lập tăng lên. Các vị thành niên cần có kiến thức chính xác về cơ thể mình, về tình dục an toàn và các biện pháp tránh thai để tránh những hậu quả không mong muốn như nạo phá thai ở tuổi sớm.

1.2. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản

Giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên là nền tảng để phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) và thai kỳ ngoài kế hoạch. Các chương trình cung cấp kiến thức đúng đắn, giúp vị thành niên phát triển thái độ tích cựchành vi trách nhiệm đối với sức khỏe sinh sản của mình.

II. Kiến thức về tình dục an toàn và biện pháp tránh thai

Tình dục an toàn là một khái niệm quan trọng mà vị thành niên cần hiểu rõ để bảo vệ sức khỏe. Điều này bao gồm hiểu biết về quan hệ tình dục an toàn, sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả, và phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, nhiều vị thành niên nạo phá thai cho biết họ thiếu kiến thức cơ bản về contraceptive methods và lợi ích của chúng. Biện pháp tránh thai bao gồm các phương pháp như thuốc uống, dụng cụ tử cung (DCTC), và bao cao su, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng phù hợp với từng đối tượng.

2.1. Các biện pháp tránh thai phổ biến cho vị thành niên

Vị thành niên có thể lựa chọn từ nhiều biện pháp tránh thai hiệu quả như thuốc ngừa thai, bao cao su (vừa tránh thai vừa phòng bệnh), thuốc tiêm tránh thai (DMPA), và dụng cụ tử cung. Mỗi phương pháp có tỷ lệ hiệu quả khác nhau và cần được tư vấn bởi nhân viên y tế chuyên nghiệp để lựa chọn phương pháp phù hợp nhất.

2.2. Phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) là những bệnh có thể lây lan qua quan hệ tình dục không an toàn. Vị thành niên cần có kiến thức đầy đủ về cách phòng ngừa các bệnh này, bao gồm sử dụng bao cao su và kiểm tra sức khỏe sinh sản định kỳ. Giáo dục về BLTQĐTD giúp vị thành niên nhận thức rõ hậu quả sức khỏe và đưa ra quyết định cẩn trọng.

III. Thái độ của vị thành niên đối với sức khỏe sinh sản

Thái độ là những quan điểm, niềm tin và cách nhìn nhận của vị thành niên về sức khỏe sinh sản. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2018, thái độ tích cực của vị thành niên đối với sức khỏe sinh sản có liên quan chặt chẽ đến kiến thức mà họ sở hữu. Vị thành niên có kiến thức tốt thường có thái độ trách nhiệm hơn, chủ động tìm hiểu thêm và tham gia các chương trình tư vấn sức khỏe. Tuy nhiên, không ít vị thành niên còn có những quan điểm sai lầm hoặc thái độ xấu hổ khi nói chuyện về vấn đề này, dẫn đến việc không dám tìm kiếm thông tin và chỉ dẫn từ các chuyên gia y tế.

3.1. Thái độ tích cực và trách nhiệm với sức khỏe sinh sản

Thái độ tích cực được thể hiện qua việc vị thành niên chủ động tìm hiểu, tham gia các chương trình giáo dục về sức khỏe sinh sản, và sẵn sàng tham khảo ý kiến chuyên gia y tế. Vị thành niên có thái độ trách nhiệm thường sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp, tuân thủ các hướng dẫn y tế, và coi trọng sức khỏe sinh sản của bản thân.

3.2. Những rào cản và định kiến trong thái độ

Nhiều vị thành niên gặp rào cản tâm lý khi nói chuyện về sức khỏe sinh sản, bao gồm xấu hổ, lúng túng, hoặc lo sợ bị phán xét xã hội. Những định kiến xã hộichuẩn mực văn hóa cũng ảnh hưởng đến thái độ của vị thành niên, khiến họ không dám tìm kiếm thông tin hoặc tham khảo y tế về những vấn đề nhạy cảm này.

IV. Thực hành và hành vi sức khỏe sinh sản của vị thành niên

Hành vi và thực hành sức khỏe sinh sản là những cách ứng xử thực tế của vị thành niên trong đời sống hàng ngày. Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy kiến thức và thái độ có tác động trực tiếp đến hành vi thực tế của vị thành niên. Những vị thành niên có kiến thức đầy đủthái độ trách nhiệm thường có hành vi an toàn hơn, bao gồm việc sử dụng biện pháp tránh thai, tránh quan hệ tình dục trước hôn nhân không an toàn, hoặc kịp thời tìm kiếm tư vấn y tế. Ngược lại, kiến thức hạn chế dẫn đến hành vi nguy hiểm, có thể gây ra những hậu quả như nạo phá thai sớm, nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục, hoặc các vấn đề sức khỏe sinh sản lâu dài.

4.1. Các hành vi an toàn trong sức khỏe sinh sản

Hành vi an toàn bao gồm: sử dụng biện pháp tránh thai khi có quan hệ tình dục, kiểm tra sức khỏe sinh sản định kỳ, tránh tình dục sớm, tìm kiếm tư vấn y tế khi cần, và tuân thủ các khuyến cáo của nhân viên y tế. Vị thành niên có kiến thức tốtthái độ tích cực thường thực hiện những hành vi này một cách chủ động.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe sinh sản

Các yếu tố liên quan đến hành vi sức khỏe sinh sản bao gồm: trình độ học vấn, môi trường sống, tình trạng kinh tế gia đình, mối quan hệ với cha mẹ, và tác động của bạn bè. Vị thành niên có gia đình hỗ trợ, trình độ học vấn cao, và môi trường tích cực thường có hành vi sức khỏe sinh sản tốt hơn.

19/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Khái niệm chung vị thành niên 1. Khái niệm Vị thành niên là giai đoạn trong quá trình phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự trưởng thành nhanh chóng để đạt được sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội và định hình nhân cách để có thể lãnh trách nhiệm sau này.

Đây là giai đoạn được hiểu một cách đơn giản là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ con và người lớn [13]. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì vị thành niên là lứa tuổi từ 10 - 19, thanh niên thì có độ tuổi từ 15 - 24 và thanh niên trẻ là người có độ tuổi từ 10 - 24 [3],[16],[24]. Tuổi vị thành niên chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn tiền VTN: 10 - 13 tuổi, giai đoạn trung VTN: 14 - 16 tuổi, giai đoạn hậu VTN: 17 - 19 tuổi [16]. Độ tuổi 15 - 19 là giai đoạn thay đổi tâm sinh lý và tình cảm nhiều nhất ở mỗi cá nhân.

Sự xuất hiện tình yêu, tình dục ở VTN Việt Nam hiện nay chủ yếu rơi vào nhóm tuổi này [10]. Cùng với sự gia tăng dân số, số lượng VTN ngày càng tăng, cao nhất là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, VTN chiếm 1/4 dân số, tức là khoảng 1,2 tỉ VTN [24],[30],[31]. Theo cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2016, ở Việt Nam 16,33% VTN từ 10 - 19 tuổi, khoảng 15,251 triệu người [19]. Các đặc trưng của tuổi dậy thì Tuổi dậy thì diễn ra ở tất cả mọi người và là giai đoạn đầu của VTN, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong đời một con người.

Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn [16]. Đặc trưng cơ bản của nhóm VTN là biến đổi thường xuyên, liên tục, mạnh mẽ cả ba mặt: thể chất, tâm lý, tình cảm, nhận thức và sau đó là hành vi. Sự nhận biết một cách đúng đắn và khoa học về những đặc trưng cơ bản của tuổi VTN là vô cùng quan trọng trong việc quan tâm, chăm sóc và giáo dục lứa tuổi này. Sự biến đổi tâm sinh lý của 3 Nghien.2018 VTN đến sớm hay đến muộn phụ thuộc vào từng người, từng giới, đời sống vật chất, tinh thần, môi trường, khí hậu, điều kiện sống ở thành thị hay nông thôn [32].

Khái niệm và nội dung về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên 1. Khái niệm sức khỏe sinh sản Theo Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ở Cairo năm 1994 cho rằng: sức khỏe sinh sản (SKSS) là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội, không chỉ đơn thuần là không bệnh tật, không tàn phế của hệ thống sinh sản [4]. Điều này cũng hàm ý là mọi người kể cả nam hay nữ đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, có hiệu quả đảm bảo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt để sinh được đứa con lành mạnh. Nội dung chủ yếu của sức khỏe sinh sản Định nghĩa về sức khỏe sinh sản trên được chấp nhận tại Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ở Cairo - Ai Cập tháng 4/1994, Việt Nam đã công nhận, cam kết thực hiện và chi tiết hóa thành 10 nội dung theo những vấn đề ưu tiên sau đây: 1.

Làm mẹ an toàn. Phá thai và tránh thai. Giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn. Sức khỏe sinh sản vị thành niên.

Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS. Ung thư vú và các ung thư của bộ máy sinh dục khác. Giáo dục tình dục học.

Công tác thông tin giáo dục truyền thông về SKSS [9],[31]. Nội dung sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên trẻ Là những nội dung nói chung của SKSS nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ. Nội dung ưu tiên Thông tin - Giáo dục - Truyền thông về sức khỏe sinh sản vị thành niên [14]: - Đặc điểm và dấu hiệu của tuổi dậy thì. - Sự phát triển tâm sinh lý tuổi VTN.

- Tình yêu và tình bạn. - Tình dục lành mạnh và tình dục an toàn. - Phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) kể cả HIV/AIDS. Các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên Các cơ sở y tế khi cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho vị thành niên: cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS (cả phòng và chữa bệnh) cho vị thành niên (đã kết hôn và chưa kết hôn).

Các dịch vụ này bao gồm: - Tư vấn về SKSS, tình dục và các biện pháp tránh thai. - Chăm sóc cho VTN mang thai và sinh đẻ. - Phá thai an toàn. - Xử lý các nhiễm khuẩn đường sinh dục/BLTQĐTD [5].

Tình dục an toàn và các biện pháp tránh thai 1. Tình dục an toàn - Tình dục an toàn là những hành vi tình dục bao gồm cả 2 yếu tố: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn. - Về phương diện tránh thai, tình dục an toàn gồm sử dụng biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả và đúng cách. - Về phương diện phòng nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, tình dục an toàn có thể chia thành 3 nhóm: 5 Nghien.2018 + Tình dục an toàn (không có nguy cơ hoặc nguy cơ rất ít): mơ tưởng tình dục, tự mình thủ dâm, vuốt ve trên mặt da lành lặn, ôm bạn tình, kiềm chế không quan hệ tình dục, chung thủy với một bạn tình, sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục.

+ Tình dục an toàn tương đối (nguy cơ trung bình): quan hệ tình dục theo đường hậu môn có sử dụng bao cao su, bằng miệng với âm đạo hay với dương vật, bằng tay với âm đạo. + Tình dục không an toàn (nguy cơ cao): quan hệ tình dục theo đường âm đạo hay hậu môn mà không dùng bao cao su [36]. Các biện pháp tránh thai BPTT là các biện pháp mà các cặp vợ chồng sử dụng nhằm kiểm soát việc sinh đẻ, để tránh có thai ngoài ý muốn [7]. Ngày nay một số BPTT còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Các biện pháp tránh thai truyền thống Là những BPTT không cần đến dụng cụ, thuốc men hay thủ thuật tránh thai nào khác để ngăn cản thụ tinh. • Xuất tinh ngoài âm đạo (giao hợp ngắt quãng) Phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo đòi hỏi sự chủ động của người nam giới trong lúc giao hợp. Dương vật được rút nhanh chóng ra khỏi âm đạo trước lúc có phóng tinh. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở một số nước phát triển và đang phát triển.

• Kiêng giao hợp định kỳ Là chọn thời điểm giao hợp cách xa những ngày phóng noãn, nhằm mục đích tinh trùng sống không gặp được noãn sống. Phương pháp này đôi khi được sử dụng kết hợp với một số phuơng pháp khác như: xuất tinh ngoài âm đạo, vách ngăn… Trong trường hợp này hiệu quả tránh thai sẽ cao hơn. - Phương pháp Ogino - Knaus: Kiêng giao hợp từ ngày thứ 9 đến ngày 19 của vòng kinh 28 ngày. Cần phải theo dõi liên tiếp hai vòng kinh trước đó 6 Nghien.2018 để đánh giá mức độ đều của vòng kinh.

Phương pháp này không có hiệu quả, không thực hiện được ở những người vòng kinh không đều. - Phương pháp ghi thân nhiệt do Ferin đề xuất năm 1947 dựa trên cơ sở phát hiện ra đường cong thân nhiệt hai thì trong chu kỳ kinh nguyệt có phóng noãn của Van de Velde (1904). Theo phương pháp này chỉ được giao hợp khi tăng thân nhiệt 2 ngày, giới hạn của phương pháp này chỉ cho biết giai đoạn sau phóng noãn. - Phương pháp chất nhầy cổ tử cung (phương pháp Billings): Không giao hợp khi người phụ nữ có chất nhầy trong âm đạo (đưa 2 ngón tay vào âm đạo thấy có chất nhầy ở giữa 2 ngón tay) cho đến 4 ngày sau khi hết chất nhầy ẩm ướt.

• Phương pháp tránh thai bằng cho con bú vô kinh Cho con bú sữa mẹ là cách dinh dưỡng lý tưởng nhất cho con đồng thời cũng giúp người phụ nữ đẻ thưa ra. Phương pháp này chỉ có hiệu quả khi có đủ các điều kiện sau: - Chưa có kinh nguyệt trở lại. - Người phụ nữ phải nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. - Đứa trẻ dưới 6 tháng tuổi.

Các phương pháp tránh thai vách ngăn • Bao cao su nam (ở nam giới) Bao cao su làm bằng nhựa latex mỏng có thể lồng vào dương vật hoặc đặt vào âm đạo trước khi giao hợp. Nó có tác dụng chứa và ngăn không cho tinh trùng vào âm đạo nên không thụ tinh. • Tránh thai trong âm đạo (ở nữ giới) Cơ chế tác dụng có thể là màng ngăn cơ học, màng ngăn lý học, nhưng bao giờ cũng có kèm theo chất diệt tinh trùng được bổ sung vào. - Màng ngăn âm đạo.

- Mũ cổ tử cung. - Bao cao su nữ.2018 • Thuốc diệt tinh trùng Là những chế phẩm hóa chất đặt vào âm đạo trước khi quan hệ tình dục nhằm mục đích tránh thai. Thuốc có nhiều dạng khác nhau: dạng gel, kem, sủi, bọt, viên thuốc, thuốc đạn và màng mỏng. Thuốc viên tránh thai Thuốc nội tiết tránh thai là một phương pháp tránh thai có hồi phục.

Tùy theo thành phần của viên thuốc người ta có thể chia ra các loại sau: • Viên kết hợp: Trong thành phần có estrogen và progestin (có 3 loại: 1 pha, 2 pha và 3 pha). • Viên progestin: Trong thành phần chỉ có progestin. Cơ chế tác dụng: ức chế phóng noãn, ức chế phát triển nội mạc tử cung, làm đặc chất nhầy cổ tử cung ngăn cản tinh trùng xâm nhập vào buồng tử cung. • Thuốc tránh thai khẩn cấp: Là thuốc sử dụng sau giao hợp mà không sử dụng biện pháp tránh thai.

Cơ chế tác dụng: ngăn cản và làm chậm sự phóng noãn. Thuốc tiêm tránh thai (DMPA) DMPA (Depomedroxy Progesterone Acetat) có hàm lượng 150mg. Bản chất của thuốc là Progestin dạng depot, thuốc sẽ giải phóng hocmon vào trong tuần hoàn chậm, từ từ. Tiêm một liều thuốc có thể tác dụng từ 2 - 3 tháng.

Cơ chế tác dụng: làm teo nội mạc tử cung, làm quánh đặc chất nhầy cổ tử cung và ức chế phóng noãn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ