Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Lâm nghiệp của tác giả Đậu Xuân Hòa (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2018) được thực hiện trong bối cảnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang chịu áp lực suy thoái, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh gia tăng, thúc đẩy xu hướng toàn cầu quay trở lại sử dụng các hợp chất thảo dược tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe. Việt Nam sở hữu thảm thực vật phong phú với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có khoảng 3.948 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm khoảng 37% tổng số loài đã biết theo thống kê của Viện Dược liệu, 2007). Tuy nhiên, khối lượng tri thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng miền núi về cây thuốc đang đứng trước nguy cơ mai một và thất truyền nghiêm trọng do chưa được tư liệu hóa đầy đủ.
Xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là địa bàn miền núi nằm sát chân dãy núi Tam Đảo. Đời sống sinh kế của người dân địa phương gắn liền với hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Thực tế tại địa bàn cho thấy tài nguyên cây thuốc rừng đang suy giảm nghiêm trọng do tình trạng khai thác ồ ạt, triệt hạ cả rễ củ để cung cấp cho thương lái thu mua. Song song đó, vốn kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy lang cao tuổi không có người kế thừa vì thế hệ trẻ ít theo nghề hoặc không tiếp thu được toàn diện tri thức cổ truyền, đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều tra và lưu giữ nguồn dữ liệu dân tộc thực vật học này.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Điều tra tri thức bản địa về những loài cây lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm thuốc, lập danh mục và đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng tại địa phương.
- Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị sử dụng của một số loài lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu tiêu biểu.
- Thu thập mẫu vật, xử lý và ép tiêu bản thực vật các loài cây thuốc điều tra được.
- Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài lâm sản ngoài gỗ cũng như các bài thuốc dân gian của đồng bào dân tộc tại xã Quân Chu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài thực vật lâm sản ngoài gỗ có công dụng làm thuốc và tri thức bản địa của cộng đồng các dân tộc (tập trung vào người Dao, Sán Dìu, Cao Lan) trong khai thác, chế biến và sử dụng dược liệu. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại các xóm Chiểm 1, Chiểm 2, Vang, Hòa Bình 1 và Hòa Bình 2 thuộc xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh (xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc). Thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018, trong đó đợt điều tra thu mẫu thực địa được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa cơ sở lý luận về lịch sử khai thác thực vật rừng làm thuốc của thế giới và Việt Nam, trích dẫn các nghiên cứu của Charles Pickering (1879), Nabi (1967), các ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Thiên nhiên Thế giới (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Tổ chức Bảo tồn các Vườn Thực vật Quốc tế (BGCI), và các công trình nghiên cứu hóa sinh - sinh lý cây thuốc của Liên Xô cũ (Arsimovich, Yatsenko, Kovalena). Tại Việt Nam, nghiên cứu dựa trên các bộ y thư cổ (Nam dược thần hiệu, Hồng nghĩa giác tư y thư của Tuệ Tĩnh; Hải Thượng y tông tâm lĩnh của Lê Hữu Trác), tài liệu thời kỳ Pháp thuộc (Dược liệu và dược điển Trung Việt của E. Perrot và Paul Hurrier, 1907; Danh mục những sản phẩm ở Đông Dương và Những cây thuốc của Campuchia và Việt Nam của Ch. Pételot, 1928–1954), cùng hệ thống tài liệu thực vật học hiện đại (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi, Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc của Vũ Văn Chuyên, Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra xã hội học và thực vật học truyền thống:
- Phương pháp thu thập thông tin xã hội học: Phỏng vấn bán cấu trúc và phương pháp liệt kê tự do đối với các đối tượng nắm giữ tri thức bản địa (ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm thuộc cộng đồng người Dao, Sán Dìu, Cao Lan). Tiến hành thảo luận nhóm, phỏng vấn hộ gia đình và sử dụng công cụ PRA để đánh giá mức độ hữu ích, tính chuyên biệt sinh cảnh và mức độ tác động của việc khai thác đến các loài cây thuốc.
- Phương pháp thực vật học và xử lý mẫu: Điều tra thực địa theo tuyến và điểm, thu thập mẫu vật thực vật có sự dẫn đường của thầy thuốc địa phương. Định danh tên khoa học tại Phòng thí nghiệm Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh thông qua phương pháp so sánh hình thái học với các khóa định loại chuyên ngành: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999–2000), Iconographia Cormophytorum Sinicorum (1972–1976), Từ điển cây thuốc (Võ Văn Chi, 1996), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001–2005), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2006).
- Phương pháp đánh giá tính nguy cấp: Căn cứ theo Sách đỏ Việt Nam (Phần II Thực vật, 2007), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007).
- Kỹ thuật chế tác và lưu trữ tiêu bản: Thu mẫu kèm đầy đủ cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản (hoa, quả, hạt); kích thước tiêu bản chuẩn 41 x 29 cm; quy trình sấy mẫu thực hiện trên cặp ép ở nhiệt độ 35–40°C trong 8–12 giờ; đính nhãn kích thước 8 x 13 cm ghi nhận số hiệu, tên khoa học, tên địa phương, địa điểm, công dụng, người thu và ngày thu mẫu.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy giảm tài nguyên rừng tự nhiên và nguy cơ mai một tri thức y học cổ truyền tại vùng núi Tam Đảo; xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể gắn với việc kiểm kê loài, mô tả hình thái - sinh thái, chế tác tiêu bản và đề xuất biện pháp bảo tồn; luận giải ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực địa và ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên dược liệu bền vững tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu tài nguyên thực vật thuốc trên thế giới và tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (trước thời kỳ Pháp thuộc, giai đoạn Pháp thuộc đến 1945, và từ sau 1945 đến nay); tổng hợp các nghiên cứu dân tộc thực vật học ở người Mường, người Dao (Ba Vì, Đà Bắc). Đồng thời, tác giả trình bày đặc điểm khu vực nghiên cứu tại xã Quân Chu: diện tích tự nhiên 4.040,19 ha, dân số 3.796 nhân khẩu (998 hộ), cơ cấu lao động nông lâm nghiệp chiếm 90,7%, đất lâm nghiệp chiếm 2.818,14 ha (gồm 260,91 ha rừng phòng hộ và 502,23 ha rừng sản xuất, chủ yếu trồng keo tai tượng). Địa bàn có 6 dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Thái), hệ thống giao thông và cơ sở y tế còn nhiều hạn chế, tạo điều kiện duy trì tập quán sử dụng thuốc nam nhưng cũng gây khó khăn cho việc giao lưu học hỏi và bảo tồn dược liệu.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả xác định đối tượng nghiên cứu là các loài thực vật lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và kinh nghiệm dân gian của cộng đồng địa phương; phân định phạm vi không gian tại 5 xóm và thời gian nghiên cứu trong 5 tháng đầu năm 2018. Khung phân tích phương pháp được chuẩn hóa gồm 5 nội dung chính: điều tra thành phần loài, mô tả đặc điểm hình thái và cách chế biến, phân tích thuận lợi - khó khăn trước áp lực dược liệu hóa học, ứng dụng tri thức bản địa trong gây trồng, và đề xuất giải pháp. Tác giả mô tả chi tiết quy chuẩn thu thập mẫu vật ngoài thực địa, cách thức nhận diện thực vật độc (cây Sơn, han), kỹ thuật sắp xếp mẫu trên giấy ép, chế độ nhiệt sấy mẫu (35–40°C) và quy cách lập nhãn tiêu bản phục vụ nghiên cứu phân loại.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả
Chương kết quả phản ánh toàn bộ dữ liệu định lượng và định tính thu được từ đợt khảo sát thực tế:
1. Đa dạng thành phần loài và các bậc taxon:
Kết quả điều tra xác định được 156 loài thực vật bậc cao có mạch dùng làm thuốc tại xã Quân Chu, thuộc 96 chi và 61 họ, phân bố không đồng đều trong 3 ngành thực vật:
| STT |
Ngành và lớp thực vật |
Số họ |
Tỷ lệ họ (%) |
Số chi |
Tỷ lệ chi (%) |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
| 1 |
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) |
3 |
4,91 |
3 |
3,12 |
4 |
2,56 |
| 2 |
Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) |
57 |
93,44 |
92 |
95,83 |
151 |
96,79 |
| - |
Lớp Mộc lan (Magnoliopsida) |
51 |
89,47* |
71 |
77,17* |
120 |
79,47* |
| - |
Lớp Hành (Liliopsida) |
6 |
10,52* |
21 |
22,83* |
31 |
20,52* |
| 3 |
Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) |
1 |
1,63 |
1 |
1,04 |
1 |
0,64 |
| Tổng |
Toàn bộ khu vực nghiên cứu |
61 |
100,00 |
96 |
100,00 |
156 |
100,00 |
(Ghi chú: Tỷ lệ phần trăm có dấu * được tính riêng trong nội bộ ngành Mộc lan).
2. Tri thức sử dụng bài thuốc theo nhóm bệnh:
Nghiên cứu ghi nhận 10 bài thuốc dân gian tiêu biểu được đồng bào địa phương ứng dụng điều trị các nhóm bệnh thông thường:
| STT |
Nhóm bệnh |
Thành phần bài thuốc (Tên phổ thông) |
Tên địa phương |
Bộ phận sử dụng |
Phương pháp chế biến và cách dùng |
| 1 |
Thấp khớp |
Đu đủ rừng Cây thu tranh Cây lai đá |
Mạc mươi đông Mây páng pẩu Mầy lái |
Lá Lá Lá |
Lấy lá 3 loài với tỷ lệ bằng nhau, phơi khô hoặc dùng tươi, xao nóng rồi đắp vào chỗ đau. |
| 2 |
Bệnh gan |
Cây chấp bút Cây huyết dụ Cây hà thủ ô |
Như tóc tàm Mầy thít sội Hào ém pệ |
Lá Lá Thân, lá, rễ |
Dùng khoảng 0,3 kg dược liệu khô sắc lấy nước uống hàng ngày thay nước. |
| 3 |
Cảm cúm |
Tía tô Cây duối Bưởi bung Đài bi |
Phạc hum lơng Mây xịch san Mặc kệt đông Mây xi phông |
Thân, lá Lá Lá Lá |
Dùng thân và lá đun sôi với nước để xông hơi toàn thân. |
| 4 |
Đau đầu |
Nhọ nồi Chuối rừng Đơn nem |
Nhọ nồi Cở cói đông Mây măng xi |
Cả cây Lá Cành, lá |
Giã nhỏ dược liệu, bọc vào lá chuối rồi lùi vào tro bếp cho nóng, sau đó chườm lên vùng thái dương. |
| 5 |
Viêm phế quản cấp |
Ngải cứu Cây xương sông |
Phặc kim Phặc hom nèn |
Cả cây Lá |
Giã nát dược liệu tươi, vắt lấy một bát nước cốt để uống trực tiếp. |
| 6 |
Đái ra máu |
Thầu dầu đỏ Bông mã đề |
Mạc lụm ca lơng Phặc mạ mèn |
Lá Cả cây |
Đun nước uống trong ngày. |
| 7 |
Bệnh thận |
Cây chay Mía đỏ Dạ cẩm Núc nác Cây tre Cây mào gà Tơ hồng vàng |
Cờ chay Tấn ói lơng Tấn ma lưng Mạc mác nác Tấn mươi phay Mạc cày lưng Nhữ hang lưng |
Lá, vỏ thân Thân Lá Thân, lá Lá Hoa, lá Dây |
Thu hái dược liệu, thái nhỏ, phơi khô rồi sắc nước uống. |
| 8 |
Bệnh trĩ |
Huyết dụ Nhọ nồi Vông gai Lá gai |
Mầy thít sụi Nhọ nồi Cờ tào nam Mầy đái |
Lá Cả cây Lá Thân, lá |
Sắc thuốc lấy nước uống. |
| 9 |
Hạ sốt |
Đu đủ rừng Rau dấp cá |
Mạc mươi đông Tầm sằm lùng |
Cả cây Cả cây |
Giã nhỏ dược liệu, đun sôi kỹ và uống. |
| 10 |
Hắc lào |
Cây riềng |
Làng lèo |
Củ |
Giã nhỏ củ tươi, ngâm với rượu trắng rồi dùng dịch rượu bôi trực tiếp lên vùng da tổn thương. |
3. Đặc điểm hình thái và sinh thái của các loài tiêu biểu:
Khóa luận lập hồ sơ mô tả đặc điểm nhận dạng và sinh thái cho 40 loài cây thuốc đại diện được người dân địa phương thu hái thường xuyên: Bưởi bung, Bồ công anh, Cây lá bỏng, Cây cà gai, Cây cỏ lào, Cây cỏ xước, Cây cối xay, Cây dâm bụt, Cây dẻ quạt, Cây đinh lăng, Cây đu đủ rừng, Cây duối, Cây gạo, Cây huyết dụ, Cây kim giao, Cây gai, Cây mía dò, Cây nhọ nồi, Cây ngải cứu, Cây ngái, Cây nghệ đen, Cây phèn đen, Cây rau má, Cây sa nhân, Cây tía tô, Cây thanh táo, Cây thầu dầu tía, Cây thuốc lá, Cây tai chua, Cỏ mần trầu, Dây kim ngân, Cây dành dành, Dây chìa vôi, Hà thủ ô, Ké đầu ngựa, Lá lốt, Núc nác, Mò hoa trắng, Gấc, và Cây mua.
4. Kỹ thuật khai thác, quản lý và áp lực thương mại:
Người dân thu hái lâm sản ngoài gỗ chủ yếu bằng công cụ thủ công (dùng tay hái lá, dùng dao chặt cành thân, dùng cuốc đào rễ củ). Tập quán thu hái mang tính tận diệt (đào cả rễ, nhổ cả cây) làm suy giảm khả năng tái sinh tự nhiên. Nguồn dược liệu tại xã Quân Chu chịu áp lực khai thác thương mại rất lớn từ việc thu mua với giá cao của các thương nhân Trung Quốc, tập trung vào các loài có giá trị: Trầm gửi cây gạo, Cốt toái bổ, Thạch xương bồ, Bạch đồng nữ, Bồ công anh, Ké đầu ngựa, Kim ngân, Bông mã đề, Tam thất, Sa nhân. Nhiều loài cây thuốc quý hiếm ghi nhận tình trạng cạn kiệt nghiêm trọng, trở nên rất khó tìm trong tự nhiên gồm Bình vôi, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì, Ba kích.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng cụ thể:
- Lập danh mục xác định 156 loài cây thuốc thuộc 96 chi, 61 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch tại xã Quân Chu. Ngành Mộc lan chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối (151 loài, chiếm 96,79%), tiếp đến là ngành Dương xỉ (4 loài, chiếm 2,56%) và ngành Cỏ tháp bút (1 loài, chiếm 0,64%).
- Ghi nhận và chuẩn hóa tên gọi địa phương, công dụng, bộ phận sử dụng và kỹ thuật bào chế của 10 bài thuốc dân gian chữa trị 10 nhóm chứng bệnh phổ biến trong cộng đồng dân tộc bản địa.
- Xây dựng bản mô tả chi tiết về hình thái học và đặc tính sinh thái của 40 loài cây thuốc làm cơ sở đối chiếu nhận dạng ngoài thực địa.
- Chế tác bộ mẫu tiêu bản thực vật khô theo đúng quy chuẩn bảo tàng (kích thước 41 x 29 cm, nhãn 8 x 13 cm) lưu trữ phục vụ đào tạo và nghiên cứu chuyên môn.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc hệ thống hóa và lưu trữ nguồn tri thức bản địa quý báu của đồng bào dân tộc miền núi trước nguy cơ thất truyền; làm rõ danh tính thực vật học của các cây thuốc theo danh pháp hai phần quốc tế; đồng thời cung cấp dẫn liệu thực tế về áp lực thị trường (hoạt động thu gom của thương nhân nước ngoài) tác động làm cạn kiệt các loài dược liệu quý tại dải rừng chân núi Tam Đảo. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất định hướng bảo tồn nguyên vị (in situ), khuyến khích gây trồng bảo tồn chuyển vị (ex situ) tại vườn nhà các hộ gia đình, tăng cường quản lý nhà nước về khai thác lâm sản và nâng cao năng lực cho mạng lưới y tế cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do điều kiện thực hiện của sinh viên:
- Khảo sát thực địa chỉ mới tập trung tại 5 xóm (Chiểm 1, Chiểm 2, Vang, Hòa Bình 1, Hòa Bình 2) trong khoảng thời gian ngắn (tháng 1 đến tháng 5 năm 2018), chưa bao quát toàn bộ diện tích rừng tự nhiên rộng 4.040,19 ha của xã Quân Chu.
- Nghiên cứu dừng lại ở mức độ điều tra dân tộc thực vật học và phân loại hình thái truyền thống, chưa có điều kiện thực hiện các phân tích định lượng về trữ lượng tài nguyên, sinh khối khai thác bền vững, cũng như chưa tiến hành phân tích thành phần hóa học hay kiểm chứng dược lý thực nghiệm đối với các bài thuốc dân gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi điều tra trên toàn bộ các thôn xóm giáp ranh vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo; triển khai nghiên cứu chiết xuất hoạt chất và đánh giá độc tính, hiệu lực lâm sàng của các cây thuốc; xây dựng mô hình nhân giống, thử nghiệm kỹ thuật gây trồng bán tự nhiên dưới tán rừng nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững cho người dân địa phương.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn dữ liệu thực địa hữu ích đối với sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Dân tộc học và Dược liệu học. Khóa luận cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho các đề tài điều tra thực vật học và dân tộc thực vật học tại khu vực trung du, miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng sinh thái núi Tam Đảo. Các phần có giá trị tham khảo cao gồm:
- Quy trình chuẩn hóa kỹ thuật thu thập, xử lý và ép tiêu bản thực vật dược (kích thước 41 x 29 cm, chế độ sấy 35–40°C trong 8–12 giờ).
- Danh lục và cấu trúc phân loại taxon của 156 loài cây thuốc lâm sản ngoài gỗ.
- Dữ liệu chi tiết về tên gọi tiếng dân tộc bản địa và phương pháp phối ngũ thảo dược trong 10 bài thuốc cổ truyền.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật làm thuốc và sự phân bố taxon giữa các ngành như thế nào?
Nghiên cứu đã ghi nhận 156 loài thực vật bậc cao có mạch làm thuốc thuộc 96 chi và 61 họ. Các loài này phân bố ở 3 ngành thực vật: ngành Mộc lan chiếm đa số với 57 họ (93,44%), 92 chi (95,83%) và 151 loài (96,79%); ngành Dương xỉ có 3 họ (4,91%), 3 chi (3,12%) và 4 loài (2,56%); ngành Cỏ tháp bút có 1 họ (1,63%), 1 chi (1,04%) và 1 loài (0,64%).
2. Bài thuốc dân gian chữa bệnh thấp khớp của người dân xã Quân Chu sử dụng những loài thảo dược nào và cách dùng ra sao?
Bài thuốc trị thấp khớp gồm 3 loài thảo dược: Đu đủ rừng (tên địa phương: Mạc mươi đông), Cây thu tranh (tên địa phương: Mây páng pẩu) và Cây lai đá (tên địa phương: Mầy lái). Cách chế biến: lấy lá của cả 3 loài với tỷ lệ bằng nhau, có thể dùng tươi hoặc phơi khô, trước khi dùng phải đem xao nóng rồi đắp trực tiếp vào vị trí khớp bị đau.
3. Quy trình chế tác tiêu bản thực vật khô trong khóa luận tuân thủ các quy cách kỹ thuật nào?
Mẫu cây được thu thập ngoài tự nhiên (tối thiểu từ 2–3 cá thể đại diện), cắt tỉa theo tiêu chuẩn kích thước 41 x 29 cm, sắp xếp trên giấy báo (đảm bảo ít nhất một lá lật ngửa mặt dưới, không chồng đè bộ phận). Cặp ép mẫu có độ dày không quá 40 cm, sấy ở nhiệt độ 35–40°C trong thời gian từ 8 đến 12 giờ cho đến khi khô kiệt. Sau đó, mẫu được khâu định vị lên bìa cứng màu trắng và dán nhãn định danh kích thước 8 x 13 cm ở góc dưới bên phải.
4. Những loài cây thuốc nào tại địa phương đang chịu áp lực khai thác lớn do thương nhân thu mua giá cao?
Văn bản nêu rõ các loài lâm sản ngoài gỗ bị thương nhân Trung Quốc thu mua nhiều với giá cao bao gồm: Trầm gửi cây gạo, Cốt toái bổ, Thạch xương bồ, Bạch đồng nữ, Bồ công anh, Ké đầu ngựa, Kim ngân, Bông mã đề, Tam thất và Sa nhân. Ngoài ra, các loài dược liệu quý hiếm như Bình vôi, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia bì, Ba kích cũng ghi nhận tình trạng suy thoái nghiêm trọng do bị đào bới rễ củ triệt để.
5. Bài thuốc dân gian nào trong nghiên cứu sử dụng nhiều thành phần loài thảo dược phối hợp nhất?
Bài thuốc chữa bệnh thận có số lượng thành phần loài phối hợp nhiều nhất với 7 loài thảo dược: Cây chay (lá, vỏ thân), Mía đỏ (thân), Dạ cẩm (lá), Núc nác (thân, lá), Cây tre (lá), Cây mào gà (hoa, lá) và Dây tơ hồng vàng (dây). Toàn bộ dược liệu được phơi khô rồi sắc nước uống.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đậu Xuân Hòa đã phản ánh một cách trung thực và hệ thống hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc lâm sản ngoài gỗ cùng tri thức bản địa tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu đã kiểm kê được 156 loài thực vật làm thuốc, lập hồ sơ 10 bài thuốc dân gian trị bệnh cùng 40 loài tiêu biểu, đồng thời chế tác bộ tiêu bản thực vật phục vụ công tác giám định hình thái học. Kết quả phân tích đã chỉ rõ nguy cơ suy kiệt tài nguyên dược liệu dưới áp lực khai thác thương mại tự phát và sự suy giảm tri thức cổ truyền, cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực phục vụ cho các định hướng bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.