Đặt vấn đề Thế giới đang phải đối mặt với những thách thức lớn: Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trƣờng, cạn kiệt tài nguyên, thiếu nƣớc sạch, đói nghèo, thực phẩm bẩn không rõ nguồn gốc, thuốc và vật tƣ y tế làm giả, kém chất lƣợng, bệnh dịch… Vấn đề ứng phó với biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên… đang là bài toán nan giải cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Bệnh dịch phát triển và xu hƣớng quay lại sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dƣợc ngày càng trở nên phổ biến. Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có một thảm thực vật phong phú và đa dạng, chứa đựng trong đó một kho dƣợc liệu tự nhiên vô cùng hữu ích. Có khoảng 12000 loài thực vật bậc cao.
Trong đó khoảng 3948 loài đƣợc dùng làm thuốc (Viện dược liệu, 2007) chiếm 37% số loài thực vật đã biết, tuy nhiên hiện nay vẫn còn rất nhiều loài thực vật cũng nhƣ những tri thức bản địa của ngƣời dân tộc miền núi về các loại cây dƣợc liệu, hiện đang ngày càng bị mai một theo thời gian và vẫn chƣa đƣợc tìm hiểu cũng nhƣ tiếp cận sâu rộng. Quân Chu là một xã thuộc huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên, do đặc thù là một vùng miền núi nằm ngay sát chân của dãy núi Tam Đảo nên cuộc sống của ngƣời dân nơi đây phần đa phụ thuộc nhiều vào tài nguyên rừng, vì vậy, những hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra trên địa bàn xã từ lâu đã không còn là điều gì đó xa lạ đối với ngƣời dân nơi đây. Tuy nhiên, hiện nay xã đang phải đối mặt với tình trạng nguồn tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt, những tri thức về cây dƣợc liệu đang dần suy thoái. Sở dĩ dẫn đến tình trạng này là do ngƣời dân trên địa bàn xã khai thác một cách ồ ạt, tận diệt rất nhiều những loại cây thuốc quý hiếm để bán cho thƣơng lái.
Cùng với đó là khối lƣợng kiến thức về cây dƣợc liệu của các thầy lang lâu năm h 2 đang dần bị thất truyền do con cháu của họ rất ít ngƣời muốn theo nghề hoặc không có đủ khả năng theo nghề do cha ông truyền lại. Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc tại xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu - Điều tra tri thức bản địa những cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đƣợc sử dụng làm thuốc, lên danh mục và đánh giá thực trạng khai thác sử dụng. - Mô tả đƣợc đặc điểm hình thái, sinh thái, giá trị sử dụng của một số loài LSNG đƣợc sử dụng làm dƣợc liệu.
- Thu Mẫu, ép tiêu bản những loài LSNG đƣợc sử dụng làm thuốc. - Đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao công tác bảo tồn và sử dụng bền vững các loài LSNG và các bài thuốc của đồng bào dân tộc trên địa bàn xã Quân Chu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, củng cố đƣợc những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế, biết cách tích lũy, thu thập, phân tích, xử lý thông tin cũng nhƣ kĩ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và ngƣời dân.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài có đƣợc thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ ngƣời dân và qua quá trình điều tra tại địa bàn nghiên cứu nên sẽ là cơ sở khách quan nhất trong việc đề xuất giải pháp trong quản lý và phát triển rừng bền vững. Đề tài góp phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn kiến thức bản địa. Giúp ngƣời dân trên địa bàn xã không chỉ có cái nhìn đầy đủ về nguồn tài nguyên cây thuốc trong tự nhiên mà còn hƣớng cho bà con có cách làm ăn mới, vừa đem lại lợi ích kinh tế cao hơn, vừa góp phần bảo tồn và phát triển bền vững nguồn dƣợc liệu quý ngay tại chính mảnh đất mình sinh sống. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Trong thời đại của chúng ta ngày nay không khó có thể nhận thấy những loại thuốc tây cùng với sự tiện dụng của chúng đã xâm chiếm thị trƣờng thuốc một cách mạnh mẽ. Nhƣng không vì thế mà giá trị và lợi ích cùa những loại cây thuốc quý hiếm bị xem nhẹ, những loại dƣợc liệu từ thảo mộc vẫn có vị trí quan trọng nhất định về thành phần, chủng loại cũng nhƣ giá trị sử dụng. Bởi vậy mà từ thời xa xƣa, dân ta đã biết dùng các cây thuốc, vị thuốc nam để phòng ngừa và chữa trị cho một số bệnh cho gia súc, gia cầm và ngƣời, từ đó đã tích lũy đƣợc những kinh nghiệm quý báu về phƣơng pháp chẩn trị đông y. tuy nhiên việc nghiên cứu, điều tra và sử dụng cây thuốc còn rất mới.
Do đó việc nghiên cứu có hệ thống việc sử dụng cây thuốc, vị thuốc trong phòng và trị bệnh là rất cần thiết. Việc nghiên cứu có hệ thống phải bao gồm: nghiên cứu về cơ chế tác dụng của cây thuốc, vị thuốc trên đối tƣợng sử dụng về sinh lý, bệnh lý. Nghiên cứu về thành phần hóa học có trong cây thuốc. Phân loại cây thuốc, phƣơng pháp trồng, thu hoạch và chế biến.
Xây dựng quy trình tách chiết các hoạt chất và các dạng bào chế thích hợp cho từng loài thảo dƣợc. Lịch sử sử dụng thực vật rừng làm thuốc của các dân tộc trên thế giới Từ thời cổ xƣa, loài ngƣời đã biết khai thác và sử dụng cây thuốc vào công tác chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu cuộc sống của mình. h 4 Charles Pickering (1879) đã nghiên cứu và đúc rút lại cho biết ngƣời Ai Cập cổ đại đã biết sử dụng những cây có tinh dầu để trị bệnh và ƣớp xác các vua chúa hoặc làm nƣớc thơm từ khoảng 4. Ngƣời Trung Quốc đã biết sử dụng tinh dầu làm thuốc chữa bệnh từ lâu.
Tại Đông Á, ngƣời Nhật Bản đã biết sử dụng cây Bạc hà làm thuốc trị bệnh từ 2.000 năm trƣớc đây (dẫn theo Lã Đình Mỡi và cộng sự, 2001) [4].Nabi (1967) đã nghiên cứu và tổng kết rằng: Nền y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ đều đƣợc ghi nhận trong lịch sử sử dụng cây cỏ làm thuốc cách đây 3. Qua các nghiên cứu về lịch sử sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới cho thấy, mỗi dân tộc trên thế giới đều có tri thức sử dụng cây thuốc để chữa bệnh từ lâu đời và đặc sắc tùy thuộc vào từng nền văn hóa. Hiện trạng tài nguyên thuốc trên thế giới Theo ƣớc tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuốc vào nguồn dƣợc liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dƣợc liệu (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006) [6]. Theo thông tin của tổ chức Y tế thế giới(WHO) đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao (trong tổng số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) đƣợc sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc (N. TheoNapralert năm 1990 con số này đƣợc ƣớc tính từ 30.000 loài cây thuốc. Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 h 5 loài thực vật đƣợc coi là cây thuốc; Ấn Độ hơn 6.000 loài; vùng nhiệt đới Đông - Nam Á khoảng 6.
Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực vật đang đƣợc sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau vào mục đích chữa bệnh. Nhiều loài trong số chúng là đối tƣợng không thể kiểm soát đƣợc trong các hoạt động buôn bán ở quy mô địa phƣơng hoặc quốc tế ( dẫn theo Phạm Minh Toại và Phạm Văn Điển, 2005). Tƣ liệu từ Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN) cho biết, hiên nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này có thông tin thì có tới 30.000 loài đƣợc coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Trong tập tài liệu “các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ “xuất bản từ năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các loài cây thuốc hay trong bộ “Trung Quốc thực vật hồng bì thư” (Sách đỏ về thực vật của Trung Quốc), năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài đƣợc sử dụng làm thuốc cần bảo vệ (dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2007) [7].
* Các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên cây thuốc - Tàn phá thảm thực vật - Hoạt động du canh du cƣ - Khai thác quá mức và sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên cây thuốc. - Nhu cầu sử dụng cây thuốc tăng lên. - Khai thác không có kế hoạch và thay đổi cơ cấu cây trồng. - Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không đƣợc tƣ liệu hóa và bị thất truyền.
* Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc Bảo tồn nguyên vị (In situ conservation): Chỉ có một số nƣớc tham gia. Một trong những nƣớc này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc. Tại Ấn Độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị. Tại Trung Quốccác khu bảo tồn tài nguyên cây thuốc cũng đang đƣợc thành lập.
h 6 Bảo tồn chuyển vị (Ex situ conservetion): năm 1989, Tổ chức Bảo tồn các Vƣờn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với IUCN và WWF xây dựng “Chiến lược bảo tồn ở các Vườn thực vật’. Trên thế giới có khoảng 1.500 Vƣờn thực vật đã xây dựng, trong đó có 152 Vƣờn của 33 quốc gia chuyên trồng cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác. Vƣờn thực vật ở Tokyo có khoảng 1.600 loài: Trồng cây thuốc: đã có một số nƣớc gây trồng cây thuốc với quy mô lớn phục vụ công tác y tế và bảo tồn quy mô lớn: Trung Quốc, Ấn Độ (dẫn theo Trần Văn Ơn, 2003) [5].