Chương 1: Giới thiệu về đề tài Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận kết quả và khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về thành phần kiểm soát nội bộ Thành phần của KSNB hay cấu trúc KSNB (Internal control structure) là một khái niệm sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về lĩnh vực KSNB ở khu vực DN và khu vực hành chính công. Theo các nghiên cứu của các học giả trên thế giới đã công bố có 2 hướng xem xét về KSNB.
Thứ nhất, thành phần KSNB hay cấu trúc được sử dụng tương tự như hệ thống KSNB cho nên có nhiều nghiên cứu sử dụng thay thế cho nhau giữa thành phần KSNB và hệ thống KSNB (Eisenberg, 1997; O’Leary và cộng sự, 2006; Johari và cộng sự, 2016). Thứ hai, theo khung tài liệu KSNB và nghiên cứu theo hướng định lượng thì thành phần của KSNB hay hệ thống KSNB bao gồm đồng thời 5 yếu tố cấu thành (Karagiorgos và cộng sự, 2011; Sultana và Haque, 2011; Gamage và công sự, 2014; COSO, 1992; COSO, 2013; Länsiluoto và cộng sự, 2016), nó có thể được coi là biến tiềm ẩn trong mô hình nghiên cứu (Jokipii, 2006). INTOSAI GOV 9110 - Hướng dẫn cho báo cáo về tính hữu hiệu của KSNB, để xây dựng cấu trúc hay thành phần KSNB hiệu quả phải đạt được 6 yếu tố then chốt. Thứ nhất, về nền tảng của quy định (legislative underpinnings), việc có quy định phải thiết lập một yêu cầu chung và các mục tiêu để duy trì tính hữu hiệu của KSNB là rất hữu ích.
Thứ hai, các tiêu chuẩn về KSNB, trong vấn đề ban hành tiêu chuẩn về thành phần KSNB, khi đưa ra quy định cụ thể nên có quy định trách nhiệm về việc ban hành và phát triển các tiêu chuẩn cần tuân thủ khi thiết kế KSNB. Thứ ba, trách nhiệm quản lý, tất cả các nhà quản lý nên nhận ra rằng một KSNB tốt là nền tảng cho kiểm soát đối với tổ chức và mục tiêu, hoạt động, cũng như các nguồn lực của nó. Đồng thời cũng nhấn mạnh là các nhà quản lý cần quan tâm đến trách nhiệm của họ về vận hành KSNB sao cho hiệu quả và liên tục duy trì môi trường kiểm soát mạnh. Thứ tư, tự kiểm tra đánh giá nội bộ, cần thiết phải ngăn ngừa sự đỗ vỡ của KSNB trước khi nó xảy ra, nhà quản lý được yêu cầu phải định kỳ tự đánh giá hoạt động của KSNB vì nó rất hữu ích trong việc đảm bảo các kiểm soát thuộc trách nhiệm của nhà quản lý là phù hợp và nó đang hoạt động theo kế hoạch đề ra.
Thứ năm, về KTNB, một bộ phận KTNB thường được thiết lập trong quản lý, vai trò của các kiểm toán viên nội bộ rất quan trọng trong KSNB của tổ chức thông qua đưa ra các ý kiến, đánh giá về KSNB. Thứ sáu, là tổ chức kiểm toán tối cao được tham gia vào việc thiết lập và đánh giá KSNB, bộ phận kiểm toán tối cao nhấn mạnh vai trò của các kiểm toán viên, vai trò của bộ phận kiểm toán trong đánh giá sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thích hợp về nguyên tắc và hiệu quả trong hoạt động đối với KSNB tại các đơn vị được kiểm toán. Gần đây Länsiluoto và cộng sự (2016) cho rằng cấu trúc KSNB bao gồm 5 yếu tố cấu thành KSNB và tính hữu hiệu KSNB được đánh giá qua 3 mục tiêu dựa trên cảm nhận của nhà quản lý (COSO, 1992; Jokipii và cộng sự, 2010), thay vì dựa trên báo báo cáo điểm yếu KSNB. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm rằng các thành phần KSNB có mối quan hệ khác nhau với ba mục tiêu của KSNB.
Bên cạnh các nghiên cứu định lượng về thành phần KSNB còn có nghiên cứu định tính của Adamec và cộng sự (2002) với nghiên cứu “sự phản ánh nội bộ”. Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp định tính như lấy ý kiến chuyên gia là các nhà quản lý, kiểm toán viên nội bộ và kiểm toán viên độc lập. Trên cơ sở khảo sát 5 yếu tố cấu thành KSNB (COSO, 1992): môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và giám sát, với bảng khảo sát likert 5 mức độ (từ rất không đồng ý đến rất đồng ý). Nghiên cứu đã công bố nội dung khảo sát về thành phần KSNB dùng để đánh giá về KSNB ở các đơn vị kiểm toán, nghiên cứu còn đề cập đến việc tự đánh giá kiểm soát.
Trong ngữ cảnh của Việt Nam, Hồ Tuấn Vũ (2016) cho rằng hệ thống hay thành phần KSNB gồm 5 yếu tố cấu thành (COSO, 1992). Trên cơ sở các thành phần cơ bản KSNB, nghiên cứu có phát hiện thêm một vài nhân tố mới để đánh giá đến sự hữu hiệu hệ thống KSNB của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng quan điểm trên, Võ Thu Phụng (2016) cho rằng hệ thống KSNB hay thành phần KSNB gồm 5 yếu tố cấu thành (COSO, 1992), và qua đó tác giả đánh giá hệ thống KSNB này đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Cũng theo hướng nghiên cứu này, Nguyễn Thị Hoàng Lan (2019) đánh giá cấu trúc KSNB hay thành phần KSNB có 5 yếu tố cấu thành và biến điều tiết mang đặc tính tổ chức đến tính hữu hiệu KSNB trong các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam.
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ 2. Ủy ban kiểm toán Collier (2009) nghiên cứu nguyên tắc cơ bản của quản lý rủi ro cho kế toán và quản lý. Tác giả cho rằng chức năng của Ủy ban kiểm toán là nhằm hỗ trợ hội đồng quản trị với cương vị là nhà quản lý thực hiện trách nhiệm đánh giá hệ thống KSNB, đánh giá tính độc lập của quá trình kiểm toán, các công việc của KTNB, đánh giá các thông tin tài chính cung cấp cho các cổ đông. Số lượng thành viên của ủy ban này ít nhất là ba LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thành viên, không có ai nằm trong ban điều hành của DN.
Phần lớn các thành viên của ban này kiểm toán nên độc lập. INTOSAI 9100 cho rằng Ủy ban kiểm toán trực thuộc HĐQT với vai trò hỗ trợ HĐQT giám sát: tính trung thực của BCTC, việc tuân thủ pháp luật và các quy định của tổ chức, tính độc lập và công việc thực hiện của kiểm toán viên bên ngoài, và việc thực hiện chức năng của KTNB. Krishnan (2005) nghiên cứu mối quan hệ chất lượng Ủy ban kiểm toán và KSNB bằng phân tích thực nghiệm. Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với thời gian nghiên cứu từ năm 1994 đến 2000 với tổng số 128 DN ở các lĩnh vực khác nhau; với mô hình nghiên cứu có 21 biến tác động đến các yếu tố cấu thành KSNB.
Trong số đó có các biến độc lập tác động đến chất lượng KSNB như: quy mô của Ủy ban kiểm toán (ACSIZE), tính độc lập của Ủy ban kiểm toán (ACINDEP), trình độ của Ủy ban kiểm toán (ACEXP)…, với biến phụ thuộc là chất lượng KSNB được đo lường bởi các yếu tố cấu thành KSNB. Trong mô hình nghiên cứu tác giả đã dùng hàm logistic để ước lượng các nhân tố tác động đến KSNB. Nghiên cứu cho thấy các biến liên quan quy mô, Ủy ban kiểm toán càng độc lập và chuyên nghiệp thì DN ít gặp vấn đề về KSNB. Theo hướng này, Zhang và cộng sự (2007) nghiên cứu chất lượng Ủy ban kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán viên và điểm yếu KSNB.
Nghiên cứu được thực hiện sau khi ban hành đạo luật Sarbanes-Oxley, các tác giả cũng sử dụng hàm logistic như trong nghiên cứu của Krishnan (2005) để chỉ ra mối quan hệ có ý nghĩa giữa chất lượng Ủy ban kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán viên và các điểm yếu KSNB. Kết quả nhấn mạnh Ủy ban kiểm toán có nhiều chuyên môn kế toán và tài chính thì khả năng phát hiện các điểm yếu của KSNB tốt hơn. Ngoài ra các DN có nhiều thay đổi kiểm toán viên gần đây cho thấy có nhiều điểm yếu của KSNB. Theo đó, nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và việc tiết lộ điểm yếu của KSNB (Hoitash và cộng sự, 2009), đã phát hiện ra rằng đặc điểm của hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán có liên quan đến thành phần của KSNB, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa chuyên gia tài chính với tiết lộ điểm yếu của KSNB.
Điểm yếu của KSNB sẽ ít nhận thấy ở các doanh nghiệp có những thành viên của Ủy ban kiểm toán có trình độ tài chính và kế toán cao. Trong các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới thì có đề cập thuật ngữ chất lượng KSNB được nhìn nhận ở tính hữu hiệu của các yếu tố cấu thành KSNB. Quan điểm này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Fadzil và cộng sự (2005) nghiên cứu mối quan hệ giữa thực hành KTNB và chất lượng KSNB. Họ đã sử thang đo chất lượng KSNB là 5 yếu tố cấu thành KSNB.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Tại Việt Nam, Đặng Thùy Anh (2017) với công trình “nghiên cứu KSNB trong các DN xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Nghiên cứu cho rằng chất lượng KSNB được đo lường thông qua 5 yếu tố cấu thành KSNB. Tác giả xem xét tác động của nhân tố UBKT/UBKS đến chất lượng KSNB. Do điều kiện thực tế ở Việt Nam, các DN xây dựng áp dụng mô hình ban kiểm soát là phổ biến cho nên biến UBKT thay bằng ban kiểm soát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố này có tác động rất thấp đến chất lượng KSNB đối với các DN xây dựng niêm yết. Chính vì vậy, tác giả nhận thấy đây là nguồn dữ liệu bổ sung vào hướng nghiên cứu của đề tài. Kiêm nhiệm Hội đồng quản trị và Giám đốc Pi và Timme (1993) nghiên cứu kiểm soát DN và hiệu quả ngân hàng. Họ cho rằng việc chồng chéo của chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành sẽ làm tăng xung đột người đại diện.
Việc này có thể trở nên trầm trọng hơn bởi vì sự hợp nhất của quản lý và các quy trình kiểm soát quyết định. Kết quả cho thấy cấu trúc đội ngũ quản lý hàng đầu làm giảm thu nhập DN. Cũng cùng chung quan điểm này, Molz (1985) cho rằng chủ tịch của HĐQT làm tổng Giám đốc với chức năng giám sát sẽ khiến cơ chế giám sát của DN không hiệu quả.