Nghiên Cứu Kịch Bản Tuồng Đào Tấn: Một Số Vấn Đề Nội Dung và Nghệ Thuật

Khám phá kịch bản tuồng đào tấn qua các vấn đề nội dung và nghệ thuật, từ đó hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và nghệ thuật truyền thống.

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2017

257
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Kịch bản tuồng Đào Tấn là một trong những di sản văn hóa quý giá của văn học Việt Nam. Nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật của các kịch bản này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nghệ thuật tuồng mà còn phản ánh những giá trị văn hóa, tư tưởng của thời đại. Đào Tấn, một trong những tác giả tiêu biểu, đã để lại hơn 40 kịch bản, trong đó có nhiều tác phẩm nổi bật. Việc phân tích các kịch bản này sẽ giúp làm sáng tỏ những đặc điểm nghệ thuật và nội dung tư tưởng của ông.

1.1. Đào Tấn và vai trò trong nghệ thuật tuồng

Đào Tấn được coi là 'Hậu tổ' của nghệ thuật tuồng. Ông không chỉ là một nhà soạn kịch mà còn là một người có tầm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của kịch bản tuồng trong lịch sử văn học Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường mang đậm dấu ấn văn hóa và tư tưởng của thời đại.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu kịch bản tuồng

Nghiên cứu kịch bản tuồng Đào Tấn giúp làm rõ những giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng trong các tác phẩm của ông. Điều này không chỉ góp phần bảo tồn di sản văn hóa mà còn tạo điều kiện cho việc giảng dạy và nghiên cứu văn học trong nhà trường.

II. Những Thách Thức trong Nghiên Cứu Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về Đào Tấn, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phân tích kịch bản tuồng của ông. Các tài liệu hiện có chủ yếu là các bài báo, tham luận, và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống. Điều này dẫn đến việc thiếu sót trong việc hiểu rõ giá trị của các tác phẩm này.

2.1. Thiếu tài liệu và nguồn tư liệu

Nhiều kịch bản của Đào Tấn không còn tồn tại nguyên vẹn, khiến cho việc nghiên cứu gặp khó khăn. Các tài liệu hiện có chủ yếu là những bản sao, dẫn đến việc khó xác định được giá trị thực sự của các tác phẩm.

2.2. Khó khăn trong việc phân tích nội dung

Việc phân tích nội dung của các kịch bản tuồng Đào Tấn đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc về bối cảnh lịch sử và văn hóa. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu vẫn chưa có đủ kiến thức để thực hiện điều này một cách hiệu quả.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Để nghiên cứu kịch bản tuồng Đào Tấn, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu văn học hiện đại. Việc tiếp cận từ góc độ thể loại và thi pháp học sẽ giúp làm rõ những đặc điểm nghệ thuật và nội dung tư tưởng trong các tác phẩm của ông.

3.1. Phương pháp nghiên cứu theo thể loại

Nghiên cứu kịch bản tuồng cần được tiếp cận từ góc độ thể loại, xác định các tiêu chí riêng về nội dung và nghệ thuật. Điều này giúp nhận diện bản chất và vị trí của kịch bản tuồng trong dòng chảy văn học.

3.2. Nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp học

Thi pháp học là phương pháp quan trọng giúp phân tích các phương thức, thủ pháp biểu hiện trong kịch bản tuồng. Việc áp dụng phương pháp này sẽ giúp làm rõ những giá trị nghệ thuật của Đào Tấn.

IV. Nội Dung Cơ Bản của Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Kịch bản tuồng Đào Tấn thường phản ánh những vấn đề tư tưởng, đạo đức và xã hội của thời đại. Các tác phẩm của ông không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc.

4.1. Tư tưởng yêu nước trong kịch bản

Nhiều kịch bản của Đào Tấn thể hiện tư tưởng yêu nước mạnh mẽ, phản ánh khát vọng tự do và công lý của nhân dân. Điều này giúp các tác phẩm của ông trở nên gần gũi và có sức sống lâu bền.

4.2. Hình tượng nhân vật trong kịch bản

Nhân vật trong kịch bản tuồng Đào Tấn thường được xây dựng với những phẩm chất tốt đẹp, thể hiện rõ nét tính cách và tư tưởng của thời đại. Điều này góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho các tác phẩm của ông.

V. Nghệ Thuật Biểu Diễn trong Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Nghệ thuật biểu diễn trong kịch bản tuồng Đào Tấn rất phong phú và đa dạng. Các yếu tố như không gian, thời gian, và ngôn ngữ đều được ông chăm chút kỹ lưỡng, tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.

5.1. Không gian và thời gian nghệ thuật

Không gian và thời gian trong kịch bản tuồng Đào Tấn được xây dựng một cách tinh tế, tạo nên bối cảnh phù hợp cho các tình huống kịch. Điều này giúp khán giả dễ dàng cảm nhận được không khí của từng vở tuồng.

5.2. Ngôn ngữ và văn thể trong kịch bản

Ngôn ngữ trong kịch bản tuồng Đào Tấn rất phong phú, với sự kết hợp giữa văn biền ngẫu, văn xuôi và thơ. Sự đa dạng này không chỉ làm phong phú thêm nội dung mà còn tạo nên sức hấp dẫn cho các tác phẩm.

VI. Kết Luận và Tương Lai của Nghiên Cứu Kịch Bản Tuồng Đào Tấn

Nghiên cứu kịch bản tuồng Đào Tấn không chỉ giúp làm rõ giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng của ông mà còn mở ra hướng đi mới cho việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng trong tương lai. Việc tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy về kịch bản tuồng sẽ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc.

6.1. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn về kịch bản tuồng Đào Tấn, từ đó khẳng định vị trí của ông trong lịch sử văn học Việt Nam. Việc này sẽ giúp bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa này.

6.2. Vai trò của giáo dục trong việc bảo tồn nghệ thuật tuồng

Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá và bảo tồn nghệ thuật tuồng. Cần đưa nội dung về kịch bản tuồng vào chương trình giảng dạy để thế hệ trẻ hiểu và trân trọng di sản văn hóa này.

08/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương này giới thuyết các khái niệm liên quan trực tiếp đến cách tiếp cận vấn đề của luận án. Chúng tôi điểm lại một cách khái quát các công trình nghiên cứu văn học, nghệ thuật liên quan đến Đào Tấn đặc biệt là hướng nghiên cứu tuồng ở phương diện kịch bản văn học. Ở đây, chúng tôi cũng đưa ra các tiền đề lý thuyết làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu của đề tài. Khái quát chung về tuồng 1.Tuồng trong văn học sử Việt Nam Nếu văn học sân khấu mặc nhiên được thừa nhận là một bộ phận cơ hữu của văn học sử các quốc gia trên thế giới cũng như trong văn học cận – hiện đại Việt Nam (văn học viết bằng chữ Quốc ngữ) thì việc thừa nhận hay không thừa nhận vai trò của tuồng trong văn học trung đại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề chưa được thống nhất.

Có thể thấy rõ điều này qua việc điểm xét các bộ văn học sử, các giáo trình lịch sử văn học. Những học giả không đề cập đến kịch bản tuồng trong văn học có thể kể đến Nguyễn Đổng Chi (Việt Nam cổ văn học sử, 1942) [23], Ngô Tất Tố (Việt Nam văn học, 1942) [259] và sau này Lê Văn Siêu (Văn học sử Việt Nam, 2006) [192] cũng chỉ nhắc đến hát nói chứ không đề cập đến tuồng. Đặc biệt, Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, quyển II – Văn học lịch triều: Việt văn, 1996), khi bàn về các thể loại văn Nôm, ông đã coi hát nói như bước tiến cuối cùng của thể cách văn Nôm [154, tr. Một số tác giả đã thừa nhận sự tồn tại của tuồng trong văn chương Việt Nam nhưng lại không cho nó một vị trí đáng kể nào khi phân tích tiến trình văn học hay tuyển chọn các tác phẩm tiêu biểu để giới thiệu.

Có thể kể đến Phạm Văn Diêu (Văn học Việt Nam, 1960) [38], Nguyễn Văn Sâm (Văn học Nam Hà, 1971) [189]… Trong những giáo trình này có đôi chỗ nhắc đến tuồng và các tác phẩm Sơn Hậu, An trào kiếm, Tam nữ đồ vương… nhưng không đi sâu vào vấn đề văn chương tuồng và tác gia tuồng tiêu biểu như những thể loại khác. Nhóm các nhà nghiên cứu quan tâm đến sự tồn tại của tuồng trong lịch sử văn học đầu tiên phải kể đến Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1943) [59]. Ở đây, kịch bản văn học (chủ yếu là kịch bản tuồng) lần đầu tiên được đề cập đến với tư cách một trong năm yếu tố cấu thành nên văn học Việt Nam (triết học, lịch sử, thi văn, kịch bản và tiểu thuyết). Ngoài ra, ông còn giới thiệu một số đoạn trích minh họa cho phần lý thuyết được rút ra từ các vở Sơn Hậu, Giang Tả cầu hôn, Tân diễn, Đệ bát tài tử hoa 8 tiên ký, Tống Địch Thanh, Nguyễn chúa phù Lê hoàng, Tượng kỳ khí xa và đề cập đến Bùi Hữu Nghĩa, Hoàng Cao Khải với tư cách là tác gia văn học tuồng.

Tuy nhiên, bức tranh đầy đủ về quá trình hình thành và phát triển cùng các kịch bản tuồng tiêu biểu qua từng thời kỳ chưa được làm rõ. Hai tác gia được nhắc tới khó có thể được coi là đại diện nổi bật nhất cho tuồng Việt Nam. Văn chương tuồng cũng mới dừng lại ở những nhận xét chung chung chứ chưa có khảo cứu và đánh giá xác đáng. Sau này, vị trí của kịch bản tuồng trong văn chương Việt Nam ngày càng được cải thiện hơn bằng nhiều hình thức khác nhau.

Trong sách Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam (Viện văn học, Văn Tân chủ biên, 1960) đã có mục viết về văn chương tuồng hát với nhận định “Hát tuồng là một nghệ thuật sân khấu có tác dụng giáo dục lớn. Các vua nhà Nguyễn rất có ý thức cho việc tuyên truyền cho chế độ mà họ đã dựng ra, tất nhiên, họ phải nắm lấy nghệ thuật hát tuồng để tuyên truyền cho họ. Nhờ vậy mà thể văn hát tuồng phát triển”[201, tr. Đặc biệt, trong giáo trình Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, 2004) do Nguyễn Lộc chủ biên đã xếp tuồng hát bội như một thể loại văn học của giai đoạn này và khái quá nguồn gốc quá trình phát triển, nội dung những vở tuồng hát bội tiêu biểu [130].

Tiếp đó, Tổng tập văn học Việt Nam (1993) [172] đã dành riêng 2 quyển số 14A và 14B cho văn chương tuồng hát để giới thiệu một số văn bản tuồng tiêu biểu và sau này được Hoàng Châu Ký gộp lại trong tập 15 – Tuồng cổ [94]. Trong Kịch bản tuồng dân gian, Xuân Yến cũng tuyển chọn và giới thiệu 19 văn bản tuồng dân gian tiêu biểu [285]. Tuồng hát bội cũng được đưa vào chương trình trung học phổ thông qua giới thiệu đoạn trích Sơn Hậu ở phần đọc thêm sách Ngữ văn lớp 11, bộ nâng cao. Sau này, Phạm Đức Duật trong chuyên khảo “Văn học tuồng nước ta từ hình thành đến hết thế kỉ XIX” in trong Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX những vấn đề lý luận và lịch sử (Trần Ngọc Vương chủ biên, 2007) [274] cũng có những dụng ý muốn đặt văn chương tuồng vào đời sống văn học dân tộc.

Tuy nhiên, sau đó, chưa thấy thêm công trình nào đề cập đến việc xác định vị trí, vai trò của tuồng trong văn học sử Việt Nam. Khi đưa ra nguyên nhân cho vấn đề này, có ý kiến cho rằng sở dĩ tuồng chưa được đặt đúng vị trí, vai trò trong văn học sử Việt Nam do thiếu vắng thông tin về văn bản Nôm, ít văn bản được dịch ra chữ quốc ngữ. Một số ý kiến khác lại khẳng định nguyên nhân chính khiến tuồng chưa được thừa nhận là một bộ phận của văn học Việt Nam là do tuồng chưa được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là trên bình diện thể loại và tác gia tiêu biểu. Trong bối cảnh này, chúng tôi mong muốn từ việc nghiên cứu khai thác một số vấn đề nội dung và nghệ thuật kịch bản tuồng Đào Tấn có thể góp phần nào đó vào việc xác lập vị trí của thể loại kịch bản tuồng trong văn chương cổ điển Việt Nam.

Khái niệm “kịch bản tuồng” Trong lĩnh vực sân khấu, yếu tố trước tiên phải kể đến là kịch bản. Đối với thể loại kịch hát dân tộc như tuồng, ở giai đoạn đầu đều dựa vào các “tích” để diễn “trò”, chính vì vậy mới có câu “có tích mới dịch ra trò” hoặc “tích nào, trò đó”. Đến các giai đoạn sau, kịch bản tuồng tồn tại dưới dạng tuồng cương, một dạng cốt truyện sơ lược mà căn cứ vào đó người diễn viên có thể vừa sáng tác vừa biểu diễn. Do vậy kịch bản tuồng lúc này chưa được cố định mà tùy ý được thay đổi theo cảm hứng của người diễn.

Hầu hết các tuồng cương đều khuyết danh và được lưu truyền như những tác phẩm văn học dân gian. Thế kỷ XVI - XVII, với chính sách phát triển văn hóa của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vai trò của Đào Duy Từ (1572 – 1634), tuồng bắt đầu được định hình và cố định thành văn bản, tuy nhiên do quá trình lưu truyền, biểu diễn, tuồng giai đoạn này tồn tại nhiều dị bản khác nhau và chủ yếu vẫn là tuồng khuyết danh. Từ nửa cuối thế kỉ XVIII trở đi kịch bản tuồng mới được hoàn thiện và phát triển đạt đến đỉnh cao với nhiều tác phẩm kinh điển như Ngũ Hổ bình Liêu, Hồ Nguyệt Cô hóa cáo, Hộ sinh đàn, Vạn bửu trình tường, Quần trân hiến thụy. và sự xuất hiện của các nhà soạn tuồng chuyên nghiệp như Nguyễn Diêu, Bùi Hữu Nghĩa, Lê Văn Duyệt, Diên Khánh Vương, Nguyễn Hiển Dĩnh,.

đặc biệt là Đào Tấn. Khái niệm kịch bản tuồng đã được nhắc đến trong các nghiên cứu của Phạm Phú Tiết, Hoàng Châu Ký, Hà Văn Cầu, Lê Ngọc Cầu, Nguyễn Lộc, Hoàng Chương dưới các tên gọi: tuồng bản, tuồng cương, kịch bản tuồng, kịch bản bi hùng. nhưng chưa có tác giả nào đưa ra nội hàm cụ thể cho khái niệm này. Khi nghiên cứu Những vấn đề thẩm mỹ, đạo lý xã hội trong tuồng cổ, Xuân Yến nhấn mạnh ý nghĩa văn học của kịch bản tuồng và khẳng định nó là một thể loại văn học của thời kỳ trung đại:“Kịch bản tuồng trước khi được các nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu nó đã có một văn bản tương đối hoàn chỉnh” [284, tr.

Thông qua ngôn từ, người đọc cảm thụ được nội dung cốt truyện, chủ đề tư tưởng và những cảm xúc thẩm mỹ do các hình tượng nghệ thuật đem lại. Trong khi phản ánh hiện thực đời sống, các tác giả tuồng chịu sự chi phối của một hệ tư tưởng cũng như lý tưởng thẩm mỹ của một thời đại nhất định. Với phương thức phản ánh hiện thực riêng, kịch bản tuồng có một cấu trúc văn bản tương đối chặt chẽ. Nhiều thể loại văn học được sử dụng làm phương tiện phản ánh trong kịch bản tuồng.

Kịch bản tuồng là một tác phẩm văn học thực sự, nó tồn tại như một thể loại văn học của thời kỳ trung đại. Kịch bản tuồng chẳng những chứa đựng những giá trị thẩm mỹ chung của một tác phẩm văn học mà nó còn có những giá trị riêng của loại hình văn học sân khấu. Trong Khảo luận về tuồng “Quần phương tập khánh”, Nguyễn Tô Lan đưa ra khái niệm phân định khá rạch ròi kịch bản văn học và kịch bản biểu diễn của tuồng: 10 “Kịch bản văn học được dùng để chỉ loại kịch bản được sáng tác hoặc nhuận sắc theo chiều hướng văn học hóa, chủ yếu phục vụ cho việc thưởng thức văn học, vì vậy lời văn thường chú ý chau chuốt về mặt văn học mà không quá câu nệ vào việc lời kịch bản, (nhất là thanh điệu) có phù hợp với điệu hát trong thực tế hay không. Kịch bản văn học thường có dung lượng lớn, khó có thể đáp ứng nhu cầu thực tế của việc biểu diễn.

Kịch bản biểu diễn được dùng chỉ loại kịch bản phục vụ trực tiếp cho biểu diễn. Loại này chia làm hai loại chính, loại vốn dĩ là kịch bản để diễn và loại cải biên từ kịch bản văn học.26] Có thể thấy, theo cách hiểu của Nguyễn Tô Lan, kịch bản văn học và kịch bản biểu diễn có mối quan hệ mật thiết nhưng cũng có sự độc lập tương đối với nhau. Kịch bản văn học hướng tới chức năng đọc, thưởng thức hơn là diễn xướng. Ngược lại, kịch bản biểu diễn dù được cải biên từ kịch bản văn học nhưng lại lược bớt các yếu tố rườm rà để phù hợp với các điệu hát, điệu múa tuồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ