Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính ở việt nam

Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam, phân tích và đánh giá thực trạng.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2017

260
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN GIỚI THIỆU

1.1. Vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

1.6. Đóng góp mới của Luận án

1.7. Cấu trúc của Luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN

2.1. Các nghiên cứu liên quan đến AEG

2.2. Các nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng định nghĩa về AEG

2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm khẳng định tồn tại AEG

2.4. Các nghiên cứu xác định các yếu tố cấu thành AEG

2.5. Các nghiên cứu đo lường mức độ AEG

2.6. Các nghiên cứu về AEG ở Việt Nam

2.7. Kết quả và hạn chế từ các nghiên cứu trước

2.7.1. Kết quả nghiên cứu về AEG

2.7.2. Hạn chế trong các nghiên cứu về AEG

2.7.3. Khe hổng trong nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

2.8. Kết luận chương 1

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN

3.1. Lý thuyết về AEG trong kiểm toán

3.2. Lược sử hình thành và phát triển AEG

3.3. Khái niệm AEG

3.4. Bản chất và cấu trúc của AEG

3.5. Mô hình cấu trúc khái niệm AEG của MacDonald

3.6. Mô hình cấu trúc khái niệm AEG của Porter

3.7. Mô hình cấu trúc khái niệm AEG của Turner

3.8. Mô hình cấu trúc AEG Al-Alimi và Katdare

3.9. Lý thuyết nền giải thích tồn tại AEG và mô hình khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

3.9.1. Lý thuyết vai trò

3.9.2. Lý thuyết ủy nhiệm

3.9.3. Lý thuyết hồi ứng của người đọc

3.9.4. Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence)

3.10. Mô hình khái niệm sử dụng trong luận án

3.11. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

4.1. Phương pháp nghiên cứu

4.1.1. Nghiên cứu định tính

4.1.2. Phân tích nội dung văn bản

4.1.3. Thiết kế bảng khảo sát

4.1.4. Nghiên cứu định lượng

4.2. Đối tượng khảo sát

4.3. Khung chọn mẫu và kích thước mẫu

4.4. Phương pháp chọn mẫu

4.5. Thực hiện khảo sát

4.6. Quy trình phân tích dữ liệu

4.7. Khung phân tích kết quả khảo sát

4.8. Kết luận chương 3

5. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5.1. Xác định trách nhiệm KTV cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng - hiện thực

5.1.1. Trách nhiệm KTV - thành phần khoảng cách hợp lý

5.1.2. Trách nhiệm KTV nên thực hiện

5.1.3. Trách nhiệm hợp lý của KTV

5.1.4. Trách nhiệm kỳ vọng bất hợp lý của KTV

5.1.5. Trách nhiệm hợp lý cần bổ sung - thành phần khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực

5.2. Mức độ hiểu biết về trách nhiệm hiện hành của KTV

5.2.1. Khoảng cách hiểu biết về trách nhiệm hiện hành của KTV

5.3. TNKT không đạt yêu cầu cần tăng cường - thành phần khoảng cách tăng cường kết quả

5.4. Trách nhiệm KTV - Thành phần khoảng cách dịch vụ

5.5. Xác định và đo lường mức độ khoảng cách của các thành phần cấu thành AEG

5.5.1. Xác định các thành phần khoảng cách kỳ vọng – hiện thực và ảnh hưởng của khoảng cách hiểu biết

5.5.2. Đo lường mức độ của từng thành phần cấu thành khoảng cách kỳ vọng – hiện thực

5.5.3. Ảnh hưởng của các nhóm nghề nghiệp đến các TNKT cấu thành các thành phần AEG

5.5.4. Ảnh hưởng của nhóm nghề nghiệp đến khoảng cách hợp lý

5.5.5. Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực

5.5.6. Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến khoảng cách tăng cường kết quả kiểm toán

5.6. Kết luận chương 4

6. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

6.1. Kết quả chính

6.1.1. Kết quả xác định trách nhiệm KTV cấu thành AEG

6.1.2. Cấu trúc và mức độ AEG

6.1.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng nghề nghiệp đối với các TNKT cấu thành nên các thành phần của AEG

6.2. Kết luận và hàm ý chính sách

6.2.1. Một số hàm ý chính sách

6.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 01: Các nghiên cứu trước liên quan tới AEG

PHỤ LỤC 02: Trách nhiệm hiện hành theo luật và chuẩn mực hiện hành

PHỤ LỤC 03: Phiếu khảo sát

PHỤ LỤC 04: Kết quả kiểm định Chi - Square

PHỤ LỤC 05: Danh sách khảo sát

PHỤ LỤC 06: Danh sách phỏng vấn

Tóm tắt

I. Tổng quan về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Việt Nam

Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Audit Expectation Gap - AEG) là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kiểm toán, phản ánh sự khác biệt giữa những gì công chúng kỳ vọng từ nghề nghiệp kiểm toán và những gì mà nghề nghiệp này thực sự có thể cung cấp. Tại Việt Nam, AEG vẫn là một thuật ngữ mới mẻ, nhưng ngày càng được quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu này nhằm làm rõ bản chất của AEG và các yếu tố ảnh hưởng đến nó trong bối cảnh kiểm toán báo cáo tài chính.

1.1. Khái niệm và lịch sử phát triển của AEG

Khái niệm AEG lần đầu tiên được đề cập bởi Liggio (1974) và đã trở thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực kiểm toán. AEG không chỉ phản ánh sự kỳ vọng của công chúng mà còn liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV).

1.2. Tình hình nghiên cứu AEG ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về AEG còn hạn chế. Một số nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn tại của AEG, nhưng chưa có nghiên cứu nào xác định rõ vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng loại trách nhiệm kiểm toán đến AEG.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu AEG ở Việt Nam

Mặc dù AEG đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, vẫn còn nhiều thách thức trong việc hiểu và thu hẹp khoảng cách này. Các yếu tố như sự thiếu hiểu biết của công chúng về vai trò của KTV và sự khác biệt trong kỳ vọng giữa các bên liên quan là những vấn đề chính.

2.1. Sự thiếu hiểu biết của công chúng về kiểm toán

Nhiều người sử dụng báo cáo tài chính không hiểu rõ về trách nhiệm của KTV, dẫn đến kỳ vọng không hợp lý. Điều này tạo ra khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến AEG

Các yếu tố kinh tế, chính trị và văn hóa có thể ảnh hưởng đến AEG. Sự khác biệt trong nhận thức và lợi ích giữa các nhóm đối tượng sử dụng báo cáo tài chính cũng góp phần làm gia tăng AEG.

III. Phương pháp nghiên cứu AEG hiệu quả tại Việt Nam

Để nghiên cứu AEG một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Việc khảo sát ý kiến của các bên liên quan sẽ giúp xác định rõ hơn về AEG và các yếu tố cấu thành của nó.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính giúp thu thập thông tin sâu sắc từ các chuyên gia và người sử dụng báo cáo tài chính, từ đó hiểu rõ hơn về kỳ vọng và thực tế trong kiểm toán.

3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát sẽ cung cấp dữ liệu cụ thể về mức độ AEG và các yếu tố ảnh hưởng, giúp đưa ra các giải pháp cụ thể để thu hẹp khoảng cách này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu AEG

Kết quả nghiên cứu AEG có thể giúp các tổ chức lập quy và KTV hiểu rõ hơn về trách nhiệm của mình, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ kiểm toán và khôi phục niềm tin của công chúng.

4.1. Kết quả nghiên cứu về AEG tại Việt Nam

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng AEG tồn tại và có xu hướng gia tăng, điều này ảnh hưởng đến uy tín của nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để điều chỉnh các chuẩn mực kiểm toán và nâng cao trách nhiệm của KTV, từ đó giảm thiểu AEG.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của nghiên cứu AEG

Nghiên cứu AEG là cần thiết để cải thiện chất lượng kiểm toán và khôi phục niềm tin của công chúng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm để làm rõ hơn về AEG và các yếu tố ảnh hưởng đến nó.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu AEG

Nghiên cứu AEG không chỉ giúp hiểu rõ hơn về trách nhiệm của KTV mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến AEG và tìm ra các giải pháp hiệu quả để thu hẹp khoảng cách này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG KIỂM TOÁN Chương này được chia thành bốn phần chính. Ngoài phần giới thiệu, phần thứ hai, tổng kết các nghiên cứu liên quan đến AEG, tiếp đến các nghiên cứu xác định và đo lường các thành phần cấu thành nên AEG liên quan đến trách nhiệm kiểm toán viên và kết quả và hạn chế từ các nghiên cứu trước. Phần thứ 3 trình bày khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở lựa chọn đề tài nghiên cứu. Phần cuối cùng, kết luận chung về vấn đề nghiên cứu.

Các nghiên cứu liên quan đến AEG Khi có sự sụp đổ, phá sản hoặc xảy ra gian lận tài chính được phát hiện của một công ty, tập đoàn nào đó nhưng không được KTV phát hiện hoặc cảnh báo cho người sử dụng BCKT. Câu hỏi thường xuyên được lặp lại “Kiểm toán viên đã ở đâu?”, điều này ngụ ý rằng, nghề nghiệp kiểm toán đã không hoàn thành trách nhiệm được công chúng ủy thác. Tuy nhiên, KTV và các doanh nghiệp kiểm toán cho rằng, mình đã thực hiện đúng trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy định. Vấn đề là công chúng đang hiểu sai về trách nhiệm của KTV và qua đó đặt niềm tin quá mức đối với vai trò của kiểm toán.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những quan điểm trái ngược giữa nghề nghiệp kiểm toán và người sử dụng BCKT. Vậy đâu là “nút thắt” để tháo gỡ những mâu thuẫn này. Chúng liên quan gì đến niềm tin và kỳ vọng của công chúng hay nhu cầu hợp lý của họ về vai trò kiểm toán. Cả giới hàn lâm và nghề nghiệp bắt đầu tiếp cận và xác định chính AEG là nút thắt.

Vì vậy, hiểu rõ, giải thích và có giải pháp thu hẹp AEG đã trở thành một chủ đề khá “thời sự” nhất là trong giai đoạn hiện nay. Khởi đầu, các nghiên cứu cố gắng thiết lập một định nghĩa đầy đủ về AEG thông qua xác định các thành phần, cấu trúc và mức độ AEG. Một số khác, tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để cung cấp bằng chứng sự tồn tại AEG giữa KTV và người sử dụng BCKT nhằm đi đến kết luận rằng, khác biệt về nhận thức quan điểm là một thuộc tính cố hữu trong mỗi cá nhân và nhóm người, do đó AEG tồn tại là tất yếu khách quan. Tuy nhiên, AEG quá lớn sẽ có những tác động tiêu cực đến uy tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 của nghề nghiệp kiểm toán dưới góc nhìn xã hội.

Có thể liệt kê và phân loại các nghiên cứu điển hình liên quan đến AEG như sau: 1. Các nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng định nghĩa về AEG. Các nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu, giải thích và xây dựng khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán dựa trên các lý thuyết nền thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, điển hình là các nghiên cứu của (Liggio 1974; Cohen 1978; AICPA 1993; Guy & Sullivan 1988; Humphrey & cộng sự 1993; Monroe & Woodliff 1993; Porter & cộng sự 1993, 2004, 2012). Tuy nhiên, không có nhiều đồng thuận về định nghĩa AEG (Koh & Woo 1998; Ojo 2006).

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đề xuất khái niệm dựa trên một số lý thuyết nền thuộc các lĩnh vực khoa học khác, chẳng hạn, Turner & cộng sự (2010) thiết lập mô hình AEG dựa trên mô hình cung cấp dịch vụ, trong khi đó, Al-Alimi & Katdare (2013), tiếp cận mô hình nhân quả để xây dựng định nghĩa về AEG. Mặc dù vậy, các học giả, nhà nghiên cứu hay các tổ chức nghề nghiệp đều thống nhất ba điểm chung. Một là, AEG xuất hiện, tồn tại cùng với nghề nghiệp kiểm toán. Hai là, AEG là sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán và nhận thức (quan điểm đánh giá) của công chúng về kết quả công việc mà kiểm toán việc thực hiện.

Ba là, khoảng cách này tồn tại liên quan đến vai trò và trách nhiệm của KTV, mục tiêu, chức năng kiểm toán, tính độc lập của KTV, mức độ tin cậy và hữu ích của báo cáo kiểm toán và thông điệp truyền tải trong BCKT. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số quan điểm khác biệt liên quan đến định nghĩa về AEG xoay quanh ba câu hỏi chính sau: Thứ nhất, AEG liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên được xác định dựa trên kỳ vọng và quan điểm của nhóm đối tượng nào?. Ủy ban Cohen (gọi tắt Ủy ban trách nhiệm Cohen do AICPA thành lập) trong báo cáo năm 1978 của mình đã định nghĩa về AEG “là khoảng cách giữa những gì mà công chúng đòi hỏi và mong muốn và những gì KTV có thể thực hiện một cách hợp lý”. Theo định nghĩa của Ủy ban Cohen, khoảng cách này được xác định dựa trên kỳ vọng và quan điểm của công chúng.

Một bên, công chúng kỳ vọng (mong muốn), TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 bên còn lại là quan điểm của họ đối với các trách nhiệm kiểm toán (công việc mà KTV) có thể và có khả năng thực hiện (kỳ vọng hợp lý của công chúng)5. Trong khi đó, Guy & Sullivan (1988) định nghĩa AEG thông qua vai trò và trách nhiệm của KTV “AEG là khoảng cách giữa những gì công chúng tin là thuộc trách nhiệm của KTV và những gì KTV tin là thuộc trách nhiệm của mình”. Theo định nghĩa này, khoảng cách này được xác định dựa trên quan điểm của công chúng và quan điểm của KTV. Sự khác biệt trong quan điểm giữa hai bên về trách nhiệm, công việc của KTV phải thực hiện6 - không phải kỳ vọng của công chúng về TNKT mà kiểm toán viên nên thực hiện (theo định nghĩa của Ủy ban Cohen).

Kết quả này hàm ý rằng, AEG luôn tồn tại và không thể thu hẹp do quan điểm của nhóm phụ thuộc vào kinh nghiệm, mức độ hiểu biết và lợi ích của mỗi cá nhân trong nhóm. Chúng có nguồn gốc từ nhận thức của mỗi cá nhân. Mặc dù định nghĩa của Guy & Sullivan (1988) cho thấy khác biệt với định nghĩa của Ủy ban Cohen như trên nhưng định nghĩa của Guy & Sullivan (1988) chưa chỉ ra khoảng cách giữa kỳ vọng hay mong muốn của công chúng so với quan điểm của chính họ về vai trò và trách nhiệm hợp lý của KTV. Porter (1993) cho rằng, cả hai định nghĩa trên đều chưa đầy đủ, mỗi định nghĩa mới chỉ xác được một thành phần của AEG.

Định nghĩa của Ủy ban Cohen chính là thành phần khoảng cách hợp lý giữa một bên là kỳ vọng của công chúng về trách nhiệm KTV nên thực hiện và một bên là quan điểm của họ về trách nhiệm hợp lý mà KTV có thể và có khả năng thực hiện (kỳ vọng hợp lý). Trong khi định nghĩa của Guy & Sullivan (1988), chính là một thành phần cấu thành nên khoảng cách hiện thực trong định nghĩa của Bà. Tuy nhiên, Porter (1993) khẳng định rằng, AEG cấu thành từ sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng đối với trách nhiệm KTV nên thực hiện và quan điểm đánh giá của họ đối với kết 5 Kỳ vọng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán nói chung trong luận án này thể hiện sự mong muốn của họ đối với trách nhiệm hoặc công việc KTV nên thực hiện. Kỳ vọng hợp lý của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán nói chung trong luận án này thể hiện quan điểm (nhận thức) của họ đối với trách nhiệm hoặc công việc KTV có thể thực hiện 6 Trách nhiệm kiểm toán, KTV phải thực hiện trong luận án này được hiểu là trách nhiệm, công việc đã đượng quy định mà nghề nghiệp kiểm toán phải tuân thủ hoặc đáp ứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 quả thực hiện công việc hoặc trách nhiệm của KTV7, gọi chung là khoảng cách kỳ vọng - hiện thực.

Trong đó, Bà loại bỏ quan điểm của KTV khi đo lường kết quả công việc của chính họ để đảm bảo tính khách quan. Ngoài việc thừa nhận AEG liên quan đến trách nhiệm và công việc của KTV, một số nghiên cứu khác cho rằng AEG cũng liên quan đến các chủ đề như (i) thông điệp được truyền tải bởi BCKT (Monroe & Woodliff 1993), (ii) mức độ đảm bảo nghề nghiệp kiểm toán có thể cung cấp (Epstein & Geiger 1994), (iii) chất lượng dịch vụ kiểm toán (ASCPA & ICAA 1994) (iv) mức độ tin cậy, hữu ích của báo cáo kiểm toán (v) tính độc lập của KTV. Thứ hai, AEG được cấu thành từ các thành phần nào?. Như trình bày trên, mặc dù có nhiều nghiên cứu xây dựng định nghĩa AEG nhưng các nghiên cứu này không (i) định nghĩa cụ thể điểm khởi đầu của AEG là chất lượng dịch vụ thực tế mà KTV cung cấp so với chuẩn mực quy định hiện hành hay so với kỳ vọng hợp lý của công chúng và (ii) kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ thực tế do KTV cung cấp theo quan điểm của KTV hay công chúng.

Do chưa xác định được AEG được cấu thành từ các thành phần nào. Hướng tiếp cận khác trong nghiên cứu về AEG bắt đầu từ việc định nghĩa AEG là gì được khởi xướng vào năm 1988 bởi Hội kiểm toán viên công chứng Canada (CICA). Trong báo cáo của Ủy ban MacDonald do CICA thành lập đã đề xuất hai thành phần cấu thành nên AEG là (i) khoảng cách kết quả và (ii) khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực. Porter (1993), phát triển tiếp mô hình này, nhưng bà cho rằng AEG phải được cấu thành từ hai thành phần chính như chính tên gọi của định nghĩa là khoảng cách kỳ vọng và khoảng cách hiện thực.

Khoảng cách hiện thực gồm hai thành phần (i) khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực và (ii) khoảng cách tăng cường kết quả. Khoảng cách hợp lý được cấu thành từ TNKT được công chúng kỳ vọng bất hợp lý, khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực cấu thành từ những TNKT công chúng kỳ vọng hợp lý nhưng KTV không thực hiện hoặc chưa có quy định bắt buộc KTV. Khoảng cách tăng cường kết quả cấu thành từ những TNKT mà KTV 7 Trong luận án này, sử dụng thuật ngữ “quan điểm đánh giá của công chúng” chỉ kết quả đánh giá mức độ hoàn thành công việc hay trách nhiệm của KTV trong thực tế qua nhận thức, hiểu biết của công chúng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 chưa đáp ứng được quy định.

Như vậy, ngoài việc kết hợp hai thành phần khoảng cách (khoảng cách hợp lý theo định nghĩa của Ủy ban Cohen và thành phần khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực theo định nghĩa Guy & Sullivan (1988), Porter (1993) còn bổ sung thêm một thành phần khoảng cách thuộc khoảng cách hiện thực là khoảng cách tăng cường kết quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ