Nghiên Cứu Khoa Học: Hình Sự Hóa Hành Vi Quấy Rối Tình Dục - Góc Nhìn Sinh Viên

Bài viết phân tích đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục, đánh giá tác động pháp lý và xã hội.

Người đăng

Ẩn danh
92
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HÀNH VI QUẤY RỐI TÌNH DỤC

1.1. Khái niệm hành vi quấy rối tình dục

1.2. Khái niệm quấy rối tình dục

1.3. Biểu hiện của quấy rối tình dục

1.4. Quấy rối tình dục theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.4.1. Quấy rối tình dục theo quy định của pháp luật lao động

1.4.2. Quấy rối tình dục trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.4.3. Hình thức xử lý đối với hành vi quấy rối tình dục

1.5. Phân biệt hành vi quấy rối tình dục với một số hành vi khác

1.5.1. Hành vi quấy rối tình dục với tội hiếp dâm

1.5.2. Hành vi khách quan và mục đích thực hiện

1.5.3. Thái độ của nạn nhân

1.5.4. Hình thức xử phạt

1.5.5. Hành vi quấy rối tình dục với hành vi cưỡng dâm

1.5.6. Hành vi khách quan, mục đích thực hiện

1.5.7. Hình thức xử lý

1.5.8. Hành vi quấy rối tình dục với hành vi làm nhục người khác

1.6. Quy định pháp luật của một số nước trên thế giới về hành vi quấy rối tình dục

1.6.1. Các quốc gia châu Âu

1.6.1.1. Cộng hòa Liên bang Đức
1.6.1.2. Vương quốc Thụy Điển

1.6.2. Các quốc gia châu Á

1.6.2.1. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

1.7. Kết luận chương I

2. CHƯƠNG II: HÌNH SỰ HÓA HÀNH VI QUẤY RỐI TÌNH DỤC

2.1. Khái quát về hình sự hóa trong pháp luật Việt Nam

2.2. Vấn đề hình sự hóa trong chính sách hình sự của nước ta hiện nay

2.3. Thực tiễn khảo sát về hành vi quấy rối tình dục

2.3.1. Phương pháp thực hiện và đối tượng khảo sát

2.3.2. Đối tượng khảo sát

2.3.3. Kết quả khảo sát về hành vi quấy rối tình dục

2.3.3.1. Mức độ quan tâm đến pháp luật phòng chống quấy rối tình dục
2.3.3.2. Biểu hiện của hành vi quấy rối tình dục
2.3.3.3. Các địa điểm thường xuyên diễn ra hành vi quấy rối tình dục
2.3.3.4. Nạn nhân của hành vi quấy rối tình dục
2.3.3.5. Đối tượng thực hiện hành vi quấy rối tình dục
2.3.3.6. Khảo sát ý kiến về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

2.4. Kiến nghị hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

2.5. Kết luận chương II

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu khoa học về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

Nghiên cứu khoa học về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục từ góc nhìn sinh viên đã trở thành một đề tài quan trọng trong lĩnh vực pháp luật hình sự. Đề tài này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc xử lý các hành vi quấy rối tình dục, đặc biệt là từ góc độ bảo vệ nạn nhân. Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của việc hình sự hóa hành vi này để đảm bảo an toàn xã hộiquyền con người.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hành vi quấy rối tình dục

Hành vi quấy rối tình dục được định nghĩa là những hành động không mong muốn liên quan đến tình dục, gây ảnh hưởng đến nhân phẩm và quyền tự do của nạn nhân. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hành vi này có thể xảy ra ở nhiều môi trường khác nhau, từ nơi làm việc đến không gian công cộng. Pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể về hành vi này, dẫn đến khó khăn trong việc xử lý và bảo vệ nạn nhân.

1.2. Phân biệt hành vi quấy rối tình dục với các tội phạm tình dục khác

Nghiên cứu phân tích sự khác biệt giữa hành vi quấy rối tình dục và các tội phạm tình dục khác như hiếp dâmcưỡng dâm. Trong khi các tội phạm này thường liên quan đến hành vi xâm phạm thân thể, quấy rối tình dục chủ yếu tập trung vào hành vi gây khó chịu và ảnh hưởng tâm lý. Việc phân biệt rõ ràng giúp xác định chính xác mức độ nghiêm trọng và hình thức xử lý phù hợp.

II. Góc nhìn sinh viên về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

Từ góc nhìn sinh viên, nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên đại học về vấn đề hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục. Kết quả cho thấy, đa số sinh viên ủng hộ việc đưa hành vi này vào pháp luật hình sự để tăng cường bảo vệ nạn nhân và răn đe người phạm tội. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sinh viên nhận thức rõ về tác động tiêu cực của hành vi này đến an toàn xã hộiquyền con người.

2.1. Nhận thức của sinh viên về hành vi quấy rối tình dục

Khảo sát cho thấy, sinh viên đại học có nhận thức khá rõ về hành vi quấy rối tình dục và tác động của nó đến nạn nhân. Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn chưa hiểu rõ về các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề này. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường giáo dục pháp luật trong môi trường đại học.

2.2. Ý kiến của sinh viên về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

Đa số sinh viên ủng hộ việc hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục để tăng cường hiệu quả xử lý và bảo vệ nạn nhân. Nghiên cứu cũng ghi nhận những ý kiến về việc cần có các biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ nạn nhân sau khi sự việc xảy ra. Điều này phản ánh sự quan tâm của sinh viên đến vấn đề an toàn xã hộiquyền con người.

III. Kiến nghị và thực tiễn áp dụng

Nghiên cứu đưa ra các kiến nghị cụ thể về việc hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục trong pháp luật Việt Nam. Các kiến nghị này bao gồm việc bổ sung các điều khoản cụ thể vào Bộ luật Hình sự, tăng cường giáo dục pháp luật, và xây dựng các chính sách hỗ trợ nạn nhân. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc xử lý vấn đề này.

3.1. Kiến nghị về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục

Nghiên cứu đề xuất việc bổ sung các điều khoản cụ thể về hành vi quấy rối tình dục vào Bộ luật Hình sự. Các điều khoản này cần quy định rõ về hành vi khách quan, chủ thể, và hình thức xử lý. Điều này giúp tăng cường hiệu quả xử lý và bảo vệ nạn nhân.

3.2. Thực tiễn áp dụng và học hỏi kinh nghiệm quốc tế

Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc xử lý hành vi quấy rối tình dục. Các quốc gia như Mỹ, Anh, và các nước châu Âu đã có những quy định cụ thể và hiệu quả trong việc xử lý vấn đề này. Việc áp dụng các kinh nghiệm này vào pháp luật Việt Nam sẽ giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường an toàn xã hội.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi quấy roi tinh duc. - Chương 2: Hình sự hóa hành vi quấy rồi tình duc 7 NỘI DUNG KET QUÁ NGHIÊN CỨU CHUONG I —- NHỮNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VIET NAM VE HANH VI QUAY ROI TINH DUC 1. Khái niệm hành vi quấy rối tình duc 1.1 Khái niệm quấy rối tình dục 1.1 Tình dục là gì? Theo Wikipedia, “Tinh duc là năng lực về giới tinh, thé chất, tam lý và sinh duc bao gom mọi khía cạnh đặc trưng của Nam giới va Nữ giới đặc biệt khi chỉ dé cập tới mỗi quan hệ giới tính, còn được gọi là tình dục ” ” Khái niệm tình dục này bao hàm cả nhận thức và cảm xúc về cơ thê mình và cơ thê của người khác, tính chât tâm lý bên trong và hành vi ứng xử bên ngoài, cảm xúc, suy nghĩ và nhu câu gân gũi về tình cảm với một ai. đó; cảm giác hấp dẫn tình dục với một người khác, các tiếp xúc tình dục qua các hành vi từ động chạm cơ thể đến giao hợp.

Từ “Tinh duc” trong Tiếng Anh được gọi là “Sexuality” bắt nguồn từ tiếng La Tinh “sexualis” và “sexus”. Đây là những từ ngữ nói đến vấn đề giải phẫu sinh sản ở người — dù cho là nam hay nữ. Từ thé kỉ 19, “Sexuality” — tinh dục không chỉ được dùng dé nói đến các hoạt động về sự sinh sản (procreational) mà còn được dùng để chỉ sự tiêu khiển (recreational), sự tận hưởng tình yêu và quan hệ thân mật (relational) giữa người với người." Như vậy, tình dục là một khái niệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựng yếu tố hữu hình và ẩn giấu cá nhân thông qua hành vi. Tình dục không chỉ là những tiếp xúc động chạm cơ thể, mà còn là những cảm xúc, suy nghĩ, nhu cầu bản năng của con người.

Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng: tinh dục được hiểu đơn giản là “Mét mặt của nhân cách, biểu hiện tất cả những cảm xúc và hành vi giới tính của một người. Tình duc có thé là biểu hiện cảm xúc và cũng có thé là những hoạt động sinh ly”.org/wik1/Tình_ dục - : W George D. Zgouride - Thyc Tế Về Hoạt Động Tình Dục Ö Con Người, Dich giả Nguyễn Hong Trang, tr.2 Quấy rối tình dục Quay rối tình dục (QRTD) (Sexual harassment) là một dang hành vi xâm hại đến quyền tự do tình dục của con người, qua đó có thể gây ảnh hưởng đến nhân phẩm người khác. Tuy nhiên, đây là một khái niệm khá rộng với nhiều cách hiểu khác nhau.

Dưới góc độ lịch sử, thuật ngữ QRTD, hay còn gọi là “sách nhiễu tình duc” (Sexual harassment), là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng vào năm 1973 trong Saturn’s ring (Vanh dai của sao Thổ) - một báo cáo của Mary Rowe cho Chủ tịch và Hiệu trưởng của Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT) về các hình thức khác nhau về van đề giới. Tuy nhiên, Mary Rowe cho rằng cô không phải là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, bởi “ORTD” đã được đưa ra thảo luận trong các nhóm phụ nữ ở Massachusetts vào đầu những năm 1970°. Vào năm 1992, Ủy ban về Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống Phụ Nữ của Liên Hợp Quốc đã đưa ra Khuyến nghị chung số 19, trong đó nhấn mạnh: “ORTD bao gom hành vi tình duc không được mong muốn như dung cham và tán tỉnh về thể xác, những bình luận mang sắc màu gợi dục, đưa cho xem sách báo khiêu dâm và bày tỏ đòi hỏi tình duc, dù bằng lời nói hay hành động. Hành vi như vậy có thể là hành vi làm nhục về có thể tạo thành một vấn đề về an toàn và sức khỏe; hành vi này là phân biệt đối xử khi một phụ nữ có những lý do hợp lý để tin tưởng rằng sự phản đối của người phụ nữ đó sẽ gây ra bất lợi cho mình liên quan tới việc của minh, bao gồm cả tuyển dụng và thăng tiễn hoặc hành vi này tạo ra một môi trường thù địch li Liên minh châu Âu (EU) và Hội đồng châu Âu (COE) coi QRTD là hành vi bat hợp pháp.

Ủy ban châu Âu của EU định nghĩa QRTD như sau: “Khi một thái độ có liên quan đến giới tinh thé hiện ở hình thức có từ ngữ, không từ ngữ hay bằng cơ thé có mục dich hay có tác động làm ton thương đến phẩm giá của một người hay tạo nên một môi trường mang nhiều doa dam, thù địch, hạ thấp, lăng nhục, xúc phạm hay bối rỗi. Diéu này bao gồm hành lý, bằng lời hoặc không lời không mong muốn””. ? Nguyễn Thị Phuong, Quấy rồi tình dục tại nơi làm việc theo pháp luật Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội, năm 2017.

Š Khuyến nghị chung số 19 của Uỷ ban về Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống Phụ Nữ - Liên hợp quốc 7 https://vi.ore/wiki/Quấy rối tình dục Không giống như định nghĩa Quốc tế khác về QRTD, Uỷ ban châu Âu cũng phân biệt ba loại bao gồm: ORTD thé chất, lời nói và không lời và nói rằng đó là một loại các hành vi không thé chấp nhận. Hành vi được xem xét là QRTD nếu đó là hành vi không mong muốn, không đúng, gây khó chịu; nếu sự từ chối của nạn nhân hoặc chấp nhận các hành vi quấy rồi tình dục ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến việc làm của mình hoặc tiễn hành tạo ra một môi trường làm việc đáng sợ, thù địch hay nhục nhã cho người nhận ” W Uỷ ban chuyên gia (CEARC) của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO khi thực hiện Điều tra đặc biệt năm 1986 về Công ước 111 (không phân biệt đối xử trong nghề nghiệp và việc làm) và Điều tra chung 1988 về Bình dang trong Việc làm và Nghề nghiệp đã nhận định: “ORTD được xác định là một hình thức cua phân biệt đối xử dựa trên giới tính và quấy rồi tình dục phá hoại sự bình đẳng tại nơi làm việc bằng cách gây ra vấn dé về dao đức của cá nhân, phúc lợi của người lao động; quấy rồi tình duc gây thiệt hại cho doanh nghiệp bằng cách làm suy yếu những nền tảng theo đó các mối quan hệ được xây dựng và làm giảm sút năng suất" °. Ở Việt Nam, do hệ thống ngôn ngữ khác nhau, nên có rất nhiều khái niệm gan giống với QRTD và có thé dùng dé thay thế cum từ này, đặc biệt là trong các văn bản được dịch từ tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt như: “Quáy nhiễu tình dục”: “Sách nhiễu tình đục”; “ Sự ham doa tình dục”; “Cưỡng bức tình đục ”;. Nhung về bản chất, các cụm từ nêu trên đều mang một ý nghĩa giống nhau.

Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, “Quáy rd?” được hiểu là “Làm cho rồi loạn, mat sự yên ổn, bình lặng” 10 Khi kết hợp với cụm từ “Tinh duc”, ta có khái niệm “Quay rồi tinh dục”. Như vậy, có thé hiểu quấy rối tình dục là một hình thức quấy nhiễu, làm rối loạn mà mục tiêu của hành vi này là hướng về giới tính của người có liên quan | Š Ủy ban các Cộng đồng châu Âu °* Uy ban chuyên gia CEARC của Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO) ' Nguyễn Như Y, Đại tir điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông Tin, 01/1999. ! Nguyễn Thị Bình, Đào Huy Khánh, Cù Minh Ngọc - Pháp luật Lao động về chống quấy rồi tình đục tại nơi làm việc ở một số quốc gia trên thế giới - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Tr.12 10 Tại Hà Nội, vào sáng ngày 02/12/2016, Vụ Bình đẳng giới - Bộ Lao động Thương binh & Xã hội kết hợp với Tổ chức ActionAid Việt Nam (AAV) cùng Trung tâm Nghiên cứu Giới — Gia đình & Môi trường trong Phát triển (CGFED) đã công bố báo cáo “Tang dau tư công hiệu quả, vì một Thành phố an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái”. Bản báo cáo tóm tat đã nhận định: “ORTD bao gồm các cử chỉ, hành vi khiến đối phương cảm thấy khó chịu về mặt tâm lý và tình dục như việc nam giới nhìn cham chằm, có ý để lộ các bộ phận sinh dục, huýt sáo trêu ghẹo, bình phẩm về hình thức bên ngoài hay ve van, tán tinh bằng các tin nhắn gợi dục.

”!? Tại Việt Nam, hành vi QRTD từng được nhắc đến trong Bộ luật Lao Động, nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào trong luật quy định về hành vi này. Mới đây, với sự giúp đỡ của tổ chức ILO, Vụ Pháp chế cùng Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phòng Thuong mại và Công nghiệp Việt Nam đã xây dựng và công bố “Bồ quy tac ứng xử về ORTD tai nơi làm việc”. Theo bộ quy tắc ứng xử nay, “ORTD là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới”. Đây là dạng hành vi không được chấp nhận, không được mong muốn và không hợp lí, xúc phạm đến nhân phẩm của người khác, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc bất ôn cho chính bản thân người bị quấy rối và cả những lao động khác.

Nhìn chung, các định nghĩa trên về hành vi QRTD do các Tổ chức Quốc tế cũng như Việt Nam nêu ra mới chỉ bó hẹp trong phạm vi lĩnh vực lao động và việc làm. Trong khi qua nghiên cứu thực tiễn phát triển của xã hội, chúng tôi nhận thấy hành vi QRTD đang ngày càng phát triển, người thực hiện hành vi có thé là bất ky ai, nơi xảy ra có thé ở bat kỳ đâu như trường học, nơi làm việc, nơi công cộng hoặc những nơi khác. Do đó, để phù hợp với đề tài nghiên cứu “Hình sự hóa hành vi quấy rồi tình dục”, nhóm chúng tôi đề xuất một định nghĩa về hành vi QRTD như sau: “Quay rồi tình duc là việc một hay nhiều người có lời nói, hành động hoặc ngôn ngữ thân thé (body language) hướng đến giới tính của người khác, gây ton thương đến danh du, nhân phẩm của họ, tạo ra một môi trường bat ôn cho người khác. , "2 Báo cáo tóm tắt “Vi một thành phố an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái: Nơi giác mơ thành hiện thực”, Tr.2 Biểu hiện của quấy rối tinh dục Từ định nghĩa nêu trên về QRTD, chúng ta có thé thấy biểu hiện của hành vi này khá đa dạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khoa học về hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục từ góc nhìn sinh viên là một tài liệu chuyên sâu phân tích các khía cạnh pháp lý và xã hội liên quan đến việc hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục, đặc biệt từ quan điểm của sinh viên. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các yếu tố pháp lý mà còn đề cập đến nhận thức và thái độ của giới trẻ đối với vấn đề này, mang lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ nạn nhân và cách thức pháp luật có thể hỗ trợ hiệu quả trong việc ngăn chặn hành vi này.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý và xã hội, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh cao bằng, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn chi tiết về cách phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực khác. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ chất lượng dịch vụ hành chính công trên địa bàn thành phố hà nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của dịch vụ công trong việc hỗ trợ cộng đồng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức tại cục thuế tỉnh đồng tháp mang lại cái nhìn sâu sắc về yếu tố con người trong hệ thống pháp lý và hành chính.

Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm các góc nhìn đa chiều, giúp mở rộng hiểu biết về các vấn đề xã hội và pháp lý liên quan.