Chương 1: Những quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi quấy roi tinh duc. - Chương 2: Hình sự hóa hành vi quấy rồi tình duc 7 NỘI DUNG KET QUÁ NGHIÊN CỨU CHUONG I —- NHỮNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VIET NAM VE HANH VI QUAY ROI TINH DUC 1. Khái niệm hành vi quấy rối tình duc 1.1 Khái niệm quấy rối tình dục 1.1 Tình dục là gì? Theo Wikipedia, “Tinh duc là năng lực về giới tinh, thé chất, tam lý và sinh duc bao gom mọi khía cạnh đặc trưng của Nam giới va Nữ giới đặc biệt khi chỉ dé cập tới mỗi quan hệ giới tính, còn được gọi là tình dục ” ” Khái niệm tình dục này bao hàm cả nhận thức và cảm xúc về cơ thê mình và cơ thê của người khác, tính chât tâm lý bên trong và hành vi ứng xử bên ngoài, cảm xúc, suy nghĩ và nhu câu gân gũi về tình cảm với một ai. đó; cảm giác hấp dẫn tình dục với một người khác, các tiếp xúc tình dục qua các hành vi từ động chạm cơ thể đến giao hợp.
Từ “Tinh duc” trong Tiếng Anh được gọi là “Sexuality” bắt nguồn từ tiếng La Tinh “sexualis” và “sexus”. Đây là những từ ngữ nói đến vấn đề giải phẫu sinh sản ở người — dù cho là nam hay nữ. Từ thé kỉ 19, “Sexuality” — tinh dục không chỉ được dùng dé nói đến các hoạt động về sự sinh sản (procreational) mà còn được dùng để chỉ sự tiêu khiển (recreational), sự tận hưởng tình yêu và quan hệ thân mật (relational) giữa người với người." Như vậy, tình dục là một khái niệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mối quan hệ giới tính, vừa chứa đựng yếu tố hữu hình và ẩn giấu cá nhân thông qua hành vi. Tình dục không chỉ là những tiếp xúc động chạm cơ thể, mà còn là những cảm xúc, suy nghĩ, nhu cầu bản năng của con người.
Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng: tinh dục được hiểu đơn giản là “Mét mặt của nhân cách, biểu hiện tất cả những cảm xúc và hành vi giới tính của một người. Tình duc có thé là biểu hiện cảm xúc và cũng có thé là những hoạt động sinh ly”.org/wik1/Tình_ dục - : W George D. Zgouride - Thyc Tế Về Hoạt Động Tình Dục Ö Con Người, Dich giả Nguyễn Hong Trang, tr.2 Quấy rối tình dục Quay rối tình dục (QRTD) (Sexual harassment) là một dang hành vi xâm hại đến quyền tự do tình dục của con người, qua đó có thể gây ảnh hưởng đến nhân phẩm người khác. Tuy nhiên, đây là một khái niệm khá rộng với nhiều cách hiểu khác nhau.
Dưới góc độ lịch sử, thuật ngữ QRTD, hay còn gọi là “sách nhiễu tình duc” (Sexual harassment), là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng vào năm 1973 trong Saturn’s ring (Vanh dai của sao Thổ) - một báo cáo của Mary Rowe cho Chủ tịch và Hiệu trưởng của Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT) về các hình thức khác nhau về van đề giới. Tuy nhiên, Mary Rowe cho rằng cô không phải là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, bởi “ORTD” đã được đưa ra thảo luận trong các nhóm phụ nữ ở Massachusetts vào đầu những năm 1970°. Vào năm 1992, Ủy ban về Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống Phụ Nữ của Liên Hợp Quốc đã đưa ra Khuyến nghị chung số 19, trong đó nhấn mạnh: “ORTD bao gom hành vi tình duc không được mong muốn như dung cham và tán tỉnh về thể xác, những bình luận mang sắc màu gợi dục, đưa cho xem sách báo khiêu dâm và bày tỏ đòi hỏi tình duc, dù bằng lời nói hay hành động. Hành vi như vậy có thể là hành vi làm nhục về có thể tạo thành một vấn đề về an toàn và sức khỏe; hành vi này là phân biệt đối xử khi một phụ nữ có những lý do hợp lý để tin tưởng rằng sự phản đối của người phụ nữ đó sẽ gây ra bất lợi cho mình liên quan tới việc của minh, bao gồm cả tuyển dụng và thăng tiễn hoặc hành vi này tạo ra một môi trường thù địch li Liên minh châu Âu (EU) và Hội đồng châu Âu (COE) coi QRTD là hành vi bat hợp pháp.
Ủy ban châu Âu của EU định nghĩa QRTD như sau: “Khi một thái độ có liên quan đến giới tinh thé hiện ở hình thức có từ ngữ, không từ ngữ hay bằng cơ thé có mục dich hay có tác động làm ton thương đến phẩm giá của một người hay tạo nên một môi trường mang nhiều doa dam, thù địch, hạ thấp, lăng nhục, xúc phạm hay bối rỗi. Diéu này bao gồm hành lý, bằng lời hoặc không lời không mong muốn””. ? Nguyễn Thị Phuong, Quấy rồi tình dục tại nơi làm việc theo pháp luật Việt Nam. Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội, năm 2017.
Š Khuyến nghị chung số 19 của Uỷ ban về Xóa bỏ các hình thức phân biệt đối xử chống Phụ Nữ - Liên hợp quốc 7 https://vi.ore/wiki/Quấy rối tình dục Không giống như định nghĩa Quốc tế khác về QRTD, Uỷ ban châu Âu cũng phân biệt ba loại bao gồm: ORTD thé chất, lời nói và không lời và nói rằng đó là một loại các hành vi không thé chấp nhận. Hành vi được xem xét là QRTD nếu đó là hành vi không mong muốn, không đúng, gây khó chịu; nếu sự từ chối của nạn nhân hoặc chấp nhận các hành vi quấy rồi tình dục ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến việc làm của mình hoặc tiễn hành tạo ra một môi trường làm việc đáng sợ, thù địch hay nhục nhã cho người nhận ” W Uỷ ban chuyên gia (CEARC) của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO khi thực hiện Điều tra đặc biệt năm 1986 về Công ước 111 (không phân biệt đối xử trong nghề nghiệp và việc làm) và Điều tra chung 1988 về Bình dang trong Việc làm và Nghề nghiệp đã nhận định: “ORTD được xác định là một hình thức cua phân biệt đối xử dựa trên giới tính và quấy rồi tình dục phá hoại sự bình đẳng tại nơi làm việc bằng cách gây ra vấn dé về dao đức của cá nhân, phúc lợi của người lao động; quấy rồi tình duc gây thiệt hại cho doanh nghiệp bằng cách làm suy yếu những nền tảng theo đó các mối quan hệ được xây dựng và làm giảm sút năng suất" °. Ở Việt Nam, do hệ thống ngôn ngữ khác nhau, nên có rất nhiều khái niệm gan giống với QRTD và có thé dùng dé thay thế cum từ này, đặc biệt là trong các văn bản được dịch từ tiếng nước ngoài sang Tiếng Việt như: “Quáy nhiễu tình dục”: “Sách nhiễu tình đục”; “ Sự ham doa tình dục”; “Cưỡng bức tình đục ”;. Nhung về bản chất, các cụm từ nêu trên đều mang một ý nghĩa giống nhau.
Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, “Quáy rd?” được hiểu là “Làm cho rồi loạn, mat sự yên ổn, bình lặng” 10 Khi kết hợp với cụm từ “Tinh duc”, ta có khái niệm “Quay rồi tinh dục”. Như vậy, có thé hiểu quấy rối tình dục là một hình thức quấy nhiễu, làm rối loạn mà mục tiêu của hành vi này là hướng về giới tính của người có liên quan | Š Ủy ban các Cộng đồng châu Âu °* Uy ban chuyên gia CEARC của Tổ chức Lao động Quốc Tế (ILO) ' Nguyễn Như Y, Đại tir điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông Tin, 01/1999. ! Nguyễn Thị Bình, Đào Huy Khánh, Cù Minh Ngọc - Pháp luật Lao động về chống quấy rồi tình đục tại nơi làm việc ở một số quốc gia trên thế giới - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Tr.12 10 Tại Hà Nội, vào sáng ngày 02/12/2016, Vụ Bình đẳng giới - Bộ Lao động Thương binh & Xã hội kết hợp với Tổ chức ActionAid Việt Nam (AAV) cùng Trung tâm Nghiên cứu Giới — Gia đình & Môi trường trong Phát triển (CGFED) đã công bố báo cáo “Tang dau tư công hiệu quả, vì một Thành phố an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái”. Bản báo cáo tóm tat đã nhận định: “ORTD bao gồm các cử chỉ, hành vi khiến đối phương cảm thấy khó chịu về mặt tâm lý và tình dục như việc nam giới nhìn cham chằm, có ý để lộ các bộ phận sinh dục, huýt sáo trêu ghẹo, bình phẩm về hình thức bên ngoài hay ve van, tán tinh bằng các tin nhắn gợi dục.
”!? Tại Việt Nam, hành vi QRTD từng được nhắc đến trong Bộ luật Lao Động, nhưng hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể nào trong luật quy định về hành vi này. Mới đây, với sự giúp đỡ của tổ chức ILO, Vụ Pháp chế cùng Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phòng Thuong mại và Công nghiệp Việt Nam đã xây dựng và công bố “Bồ quy tac ứng xử về ORTD tai nơi làm việc”. Theo bộ quy tắc ứng xử nay, “ORTD là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới”. Đây là dạng hành vi không được chấp nhận, không được mong muốn và không hợp lí, xúc phạm đến nhân phẩm của người khác, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc bất ôn cho chính bản thân người bị quấy rối và cả những lao động khác.
Nhìn chung, các định nghĩa trên về hành vi QRTD do các Tổ chức Quốc tế cũng như Việt Nam nêu ra mới chỉ bó hẹp trong phạm vi lĩnh vực lao động và việc làm. Trong khi qua nghiên cứu thực tiễn phát triển của xã hội, chúng tôi nhận thấy hành vi QRTD đang ngày càng phát triển, người thực hiện hành vi có thé là bất ky ai, nơi xảy ra có thé ở bat kỳ đâu như trường học, nơi làm việc, nơi công cộng hoặc những nơi khác. Do đó, để phù hợp với đề tài nghiên cứu “Hình sự hóa hành vi quấy rồi tình dục”, nhóm chúng tôi đề xuất một định nghĩa về hành vi QRTD như sau: “Quay rồi tình duc là việc một hay nhiều người có lời nói, hành động hoặc ngôn ngữ thân thé (body language) hướng đến giới tính của người khác, gây ton thương đến danh du, nhân phẩm của họ, tạo ra một môi trường bat ôn cho người khác. , "2 Báo cáo tóm tắt “Vi một thành phố an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái: Nơi giác mơ thành hiện thực”, Tr.2 Biểu hiện của quấy rối tinh dục Từ định nghĩa nêu trên về QRTD, chúng ta có thé thấy biểu hiện của hành vi này khá đa dạng.