ĐẶT VẤN ĐỀ Chi phí thức ăn chiếm tới khoảng 60-70% tổng chi phí trong chăn nuôi gia cầm, do đó giảm chi phí thức ăn là chủ đề được quan tâm trong nhiều năm qua. Đặc biệt trong thời gian gần đây, trước sự khoảng và đứt gãy nguồn cung ứng do ảnh hưởng của đại dịch Covid19 và chiến tranh giữa Nga với Ucraina, gia nguyên liệu nói chung và giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nói riêng tăng cao. Gây ảnh hưởng đến chi phí sản suất thức ăn chăn nuôi nói chung và thức ăn cho gà nói riêng. Trong bối cảnh giá đầu ra chưa ổn định, áp lực dịch bệnh đối với chăn nuôi gia cầm cao thì việc tối ưu các chi phí đầu vào là rất quan trọng.
Để đạt được mục tiêu này thì việc đánh giá đúng nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi và thành phần dinh dưỡng của thức ăn là yêu cầu bắt buộc. Trong tổng số các chất dinh dưỡng có mặt trong thức ăn thì protein và thành phần cấu tạo của nó là các axit amin được biết đến là một trong những chất dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, chất lượng thịt, chất lượng trứng. Trong khẩu phần ăn cho gà, nguồn nguyên liệu cung cấp protein có giá thành cao nhất, vì vậy khi giảm hàm lượng protein thô đồng nghĩa với chi phí thức ăn giảm. Nếu lượng protein (axit amin) cung cấp vào cơ thể nhiều hơn nhu cầu, lượng axit amin dư thừa sẽ không được dự trữ trong cơ thể mà được đưa vào quá trình dị hóa tạo năng lượng.
Vì vậy để vật nuôi phát triển khỏe mạnh, trong khẩu phần ăn cần đáp ứng đủ và cân đối về số lượng và thành phần các axit amin trong khẩu phần. Bên cạnh đó việc xác định được mức giảm protein thô thích hợp còn giúp kiểm soát được sự lãng phí thức cho chăn nuôi gia cầm. Khi gia cầm không tiêu hóa hết các chất dinh dưỡng trong thức ăn, protein trải qua quá trình dị hóa tạo năng lượng sinh các chất gây nên mùi trong chuồng và đặc biệt một số axit amin có chứa lưu huỳnh sẽ bị phân hủy tạo khí H2S. Các khí này không những gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp của gia cầm mà còn gây ô nhiễm môi trường và góp phần gây hiệu ứng nhà kính.
1 Những nghiên cứu về giảm protein trên gia cầm ở Việt Nam còn hạn chế. Đặc biệt là những nghiên cứu trên gà đẻ trứng Isa brown nuôi bằng khẩu phần dựa trên nguồn nguyên liệu sẵn có của Việt Nam chưa được quan tâm nhiều. Xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất, đề tài: “THỬ NGHIỆM CÁC MỨC GIẢM PROTEIN THÔ TRÊN CƠ SỞ CÂN ĐỐI AXITAMIN TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA GÀ ĐẺ TRỨNG ISA BROWN” đã được xây dựng và lên kế hoạch thực hiện. Mục tiêu chung Xác định được mức giảm protein thô trên cơ sở cân đối các axit amin cho gà đẻ góp phần gia tăng độ chính xác khi xây dựng khẩu phần ăn cho gà đẻ trứng thương phẩm.Mục tiêu cụ thể 1.
Xác định mức giảm protein thô ở mức nào là phù hợp cho gà đẻ giai đoạn 24- 28 tuần tuổi. Xác định mức giảm protein thô ở mức nào là phù hợp cho gà đẻ giai đoạn 29-33 tuần tuổi. YÊU CẦU Tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình vệ sinh, nuôi dưỡng, chăm sóc, công tác thú y. Theo dõi đầy đủ, ghi chép, thu thập số liệu, thông tin một cách khách quan.
2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. PROTEIN VÀ AXIT AMIN TRONG DINH DƯỠNG GIA CẦM 2. Khái niệm về protein và axit amin Protein có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp “protos” nghĩa là thứ nhất hay quan trọng nhất. Protein là những chất hữu cơ đại phân tử, được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân mà các đơn phân là axit amin.
Các nguyên tố chính trong protein là cacbon (C), oxy (O), hydro (H), nito (N), và một số có lưu huỳnh (S) và photpho (P). Tỷ lệ các nguyên tố trong protein (%) Nguyên tố Tỷ lệ Cacbon 51,0 – 55,0 Oxy 6,5 – 7,3 Hydro 15,5 – 18,0 Nito 0,5 – 2,0 Lưu huỳnh 0,5 – 2,0 Photpho 0 – 1,5 (Amino acids in animal nutrition-2014) Axit amin (AA) là đơn vị cấu tạo nên protein. Trong phân tử AA có chứa các nhóm chức amin (-NH2) và cacboxylic axit (-COOH), nhóm (-NH2) thay thế nguyên tử hydrogen ở C, nên gọi là - axít amin. Phân loại axit amin theo quan điểm dinh dưỡng Hiện nay, theo D’Mello (2003), axit amin được phân thành 3 loại gồm axit amin không thay thế (axit amin thiết yếu, EAA), axit amin bán thay thế (axit amin bán thiết yếu hoặc axit amin thiết yếu có điều kiện, CEAA) và axit amin thay thế 3 (axit amin không thiết yếu, NEAA) (bảng 2.
Ở gia cầm có 10 loại axit amin quan trọng trong quá trình thực hiện các chức năng duy trì và sản xuất bao gồm histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, agrinine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine do vật nuôi không thể tổng hợp bộ khung carbon hay keto acid tương ứng (D’Mello, 2003). Các axit amin này được gọi là các axit amin “không thay thế” hay “thiết yếu” và cần phải được cung cấp cho cơ thể. Động vật dạ dày đơn được cung cấp các axit amin này qua thức ăn. Ngược lại, các axit amin cơ thể có khả năng tự tổng hợp được gọi là các axit amin “có thể thay thế” hay “không thiết yếu”.
Các axit amin không thiết yếu ở gia cầm bao gồm alanine, asparagine, aspartate, glutamate, glutamine, glycine và serine. Axit amin thiết yếu có điều kiện là những axit amin không thiết yếu trở thành thiết yếu trong một số điều kiện sinh lý của cơ thể. Phân loại axit amin theo quan điểm dinh dưỡng Axit amin Axit amin thiết Axit amin thiết yếu có điều kiện không thiết yếu yếu Lysine Cyst(e)ine Glutamate Histidine Tyrosine Glutamine Leucine Proline Glycine Isoleucine Serine Valine Alanine Methionine Aspartate Threonine Asparagine Tryptophan Phenylalanine Arginine 2. Axit amin hạn chế Quá trình tổng hợp protein là một quá trình không thể thiếu ở động vật, nguyên liệu của quá trình này là các axit amin theo một tỷ lệ nhất định tùy thuộc vào giống, loài, giới tính, giai đoạn sinh trưởng.
Khi việc cung cấp axit amin nào đó không đáp ứng đủ nhu cầu của vật nuôi, axit amin này sẽ trở thành axit hạn 4 chế hay axit amin giới hạn. Axit amin thiếu nhiều nhất và giảm hiệu quả sử dụng protein lớn nhất được gọi là axit amin hạn chế thứ nhất hay axit amin giới hạn thứ nhất, tương tự: axit amin giới hạn thứ 2, thứ 3,…Trong khẩu phần ăn của gia cầm methionine là axit amin giới hạn thứ nhất, lysine là axit amin giới hạn thứ 2 với thức ăn cơ sở là ngô và đỗ tương. Khi một axit amin thiết yếu này không đáp ứng đủ dẫn đến các ait amin thiết yếu khác giảm hiệu quả sử dụng (Dalibard và cs 2014). Nguyên tắc này được minh họa bằng “thùng Liebig”, trong đó các thanh gỗ tạo nên thùng là các axit amin, mức nước trong thùng là hiệu quả tổng hợp protein từ các axit amin.
Những thanh gỗ ngắn nhất, nhì, ba… là những axit amin giới hạn thứ nhất, hai, ba… Sức chứa của thùng bị giới hạn và tỷ lệ thuận với axit amin giới hạn thứ nhất, mức nước trong thùng chỉ đạt tối đa khi ngang bằng với độ cao của axit amin giới hạn thứ nhất cho dù độ cao của các axit amin khác là ngang miệng thùng. Vậy nên, cần bổ sung axit amin giới hạn thứ nhất rồi sau đó mới đến axit amin giới hạn thứ 2, 3… (Hình 2.1: Thùng gỗ minh họa khái niệm axit amin giới hạn (Amino acids in animal nutrition-2014) 5 2. Protein lý tưởng và nhu cầu axit amin trong protein lý tưởng của gà Protein lý tưởng (IP) được định nghĩa là loại protein cung cấp đầy đủ và đúng tỷ lệ các axit amin thiết yếu mà vật nuôi yêu cầu và cân đối giữa AA thiết yếu và không thiết yếu. Tỷ lệ các aa thiết yếu trong IP có thể tính theo 100g protein (g/16gN) hay tính theo tỷ lệ lysine.
Theo Baker và Han (1994), lysine đã được chọn là axit amin tham chiếu vì ba lý do chính: 1) phân tích lysine trong thức ăn chăn nuôi tương đối đơn giản, không giống như phân tích của tryptophan và axit amin chứa lưu huỳnh; 2) dữ liệu cho nhu cầu lysine tiêu hóa của gia cầm khá phong phú; và 3) không giống như một số axit amin khác (ví dụ: methionine, cystine và tryptophan), lysine được hấp thụ chỉ sử dụng cho tích lũy protein. Đối với gà đẻ tỷ lệ các axit amin trong khẩu phần tính theo lys là methionine + cysteine là 86%, threonine 70%, tryptophan 22%, isoleucine 78%, leucine 114%, histidine 25%, phenylalanine + tyrosine 125%, valine 86% so với lysine (Chung và Baker, 1992). Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều nghiên cứu về nhu cầu AA của gia cầm từ nhiều khía cạnh khoa học và kinh tế. Các kết quả nhu cầu AA từ các nghiên cứu rất khác nhau, do nhu cầu AA bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, như môi trường, giống, thể trạng, và khẩu phần ăn.
Xét về yếu tố khẩu phần ăn, có nhiều các yếu tố liên quan đến nhu cầu axit amin như năng lượng trao đổi, AA có sẵn trong khẩu phần, mất cân bằng giữa các axit amin, thiếu hoặc thừa axit amin, độ ngon miệng, protein thô trong khẩu phần hay mức độ chuyển hóa các axit amin. Nhu cầu axit amin và cân bằng tối ưu axit amin trong khẩu phần của gà phụ thuộc vào giống, giai đoạn sinh trưởng và mục đích nuôi (nuôi làm giống, nuôi thịt hay nuôi lấy trứng). Bản chất nhu cầu protein chính là nhu cầu axit amin, bởi vậy sử dụng hiệu quả protein chính là cân bằng tối ưu các axit amin. Nhu cầu dinh dưỡng của khẩu phần gà đẻ theo khuyến cáo của Brazil Gà đẻ trứng trắng Gà đẻ trứng nâu Khối lượng 55,5 51 48 57 52 48 trứng Lysine 0,803 0,736 0,697 0,846 0,774 0,708 Methionine 0,402 0,368 0,349 0,423 0,387 0,354 Methionine + 0,731 0,67 0,634 0,770 0,704 0,644 Cystine Threonine 0,610 0,559 0,530 0,643 0,588 0,538 Tryptophan 0,185 0,169 0,160 0,195 0,178 0,163 Arginine 0,803 0,736 0,697 0,846 0,774 0,708 Glycine + 0,618 0,567 0,537 0,651 0,569 0,545 Serine Valine 0,763 0,699 0,662 0,804 0,735 0,673 Isoleucine 0,610 0,559 0,530 0,643 0,588 0,538 Leucine 0,980 0,898 0,850 1,032 0,944 0,864 Histidine 0,233 0,213 0,202 0,245 0,224 0,205 Phenylalanine 0,522 0,478 0,453 0,550 0,503 0,46 Phenylalanine 0,948 0,868 0,822 0,998 0,913 0,835 + Tyrosine Nguồn: Rostagno et al.
Vai trò dinh dưỡng của lysine Lysine (Lys) là axit amin giới hạn thứ hai trong khẩu phần ăn của gà dựa trên cơ sở ngô và khô đậu tương. Bên cạnh đó, Lysine được sử dụng là axit amin tham chiếu cho các axit amin khác theo protein lý tưởng.