ĐẶT VẤN ĐỀ Vi rút SARS-CoV-2 được ghi nhận xuất hiện đầu tiên tại Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019 và trở thành căn nguyên gây đại dịch COVID-19 trên toàn cầu [107, 118, 159]. Số ca nhiễm SARS-CoV-2 trên thế giới được ghi nhận đến ngày 28/4/2023 là trên 687 triệu ca, trong đó số ca tử vong khoảng 6 triệu ca. Số liệu này được ghi nhận ở Việt Nam là trên 11 triệu ca nhiễm và khoảng 43 nghìn ca tử vong [184]. Đại dịch COVID-19 được xác định là mối đe doạ tới sức khoẻ người dân ở tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [20].
Sau một năm lưu hành, đến cuối năm 2020 SARS-CoV-2 bắt đầu được ghi nhận có những biến đổi về mặt di truyền, làm thay đổi đặc tính của vi rút [154]. Trong ba năm 2020-2022, có 5 biến thể quan tâm (VOI) của SARS-CoV-2 đã được xác định với các đặc tính làm tăng khả năng lây truyền, tăng mức độ nghiêm trọng bệnh, trốn tránh hệ miễn dịch và giảm hiệu quả bảo vệ của vắc xin. Khi dịch COVID-19 xuất hiện, Việt Nam đã áp dụng các chính sách, biện pháp kiểm soát dịch COVID-19 khác nhau, thay đổi linh hoạt theo từng giai đoạn tiến triển và cập độ của dịch nhằm đảm bảo sức khoẻ của người dân và ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Trong hai năm 2020-2021, Việt Nam áp dụng chính sách “zero covid” với các biện pháp chống dịch quyết liệt, triệt để về mặt kinh tế - xã hội nói chung cũng như các biện pháp về y tế nói riêng [27-29].
Vào tháng 2/2021, Việt Nam bắt đầu triển khai tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho một số đối tượng ưu tiên, từ tháng 7/2021 vắc xin này được tiêm cho mọi đối tượng trên 18 tuổi [33, 42]. Khi đã đạt kết quả 100% người trên 18 tuổi được tiêm ít nhất 1 liều vắc xin phòng COVID-19 (tháng 12/2021), Việt Nam từng bước chuyển sang trang thái thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19. Sang năm 2022, vắc xin phòng COVID-19 tiếp tục được triển khai cho người dưới 18 tuổi và tiêm liều bổ sung (mũi 3 và 4) cho người trên 18 tuổi [3, 8, 36]. 2 Với chính sách “zero covid” giai đoạn 2020-2021, công tác xét nghiệm đã góp phần không nhỏ vào thành công trong việc kiểm soát dịch tại Việt Nam.
Xét nghiệm sinh học phân tử (realtime RT-PCR) được áp dụng cho mọi đối tượng nghi nhiễm để kịp thời phát hiện các ca bệnh COVID-19; xét nghiệm huyết thanh học được thực hiện cho các đối tượng có yếu tố dịch tễ liên quan (tiếp xúc / nghi tiếp xúc) đến ca bệnh trong ổ dịch có quy mô từ nhỏ đến lớn nhằm nhanh chóng phát hiện các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 không triệu chứng trong cộng đồng [16, 44, 47]. Để có thêm thông tin về đáp ứng kháng thể kháng SARS-CoV-2 của các ca bệnh COVID-19 và của các đối tượng có nguy cơ nhiễm SARS-CoV-2 ở Việt Nam giai đoạn 2020-2021, cũng như đáp ứng kháng thể sau tiêm vắc xin phòng COVID- 19, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đáp ứng kháng thể kháng SARS-CoV-2 trong quần thể người nhiễm và người tiếp xúc tại một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam, 2020-2021” với hai mục tiêu cụ thể sau: 1. Xác định tỉ lệ kháng thể kháng SARS-CoV-2 ở người nhiễm và người tiếp xúc tại một số tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam, 2020-2021 2. Xác định kháng thể trung hoà SARS-CoV-2 ở người nhiễm và người tiếp xúc chưa tiêm vắc xin phòng COVID-19 tại địa bàn nghiên cứu.
KHÁI QUÁT VỀ VI RÚT SARS-COV-2 1. Phân loại và hình thái SARS-CoV-2 Phân loại Orthocoronavirinae là một trong ba phân họ của họ Coronaviridae, bộ Nidovirales. Theo Hội đồng quốc tế về phân loại vi rút (ICTV), phân họ Orthocoronavirinae gồm 4 chi: Alphacoronavirus, Betacoronavirus, Gammacoronavirus và Deltacoronavirus. Trong đó, chi Betacoronavirus gồm 5 phân chi: Embecovirus, Hibecovirus, Merbecovirus, Nobecovirus và Sarbecovirus [49, 160, 175].
Phân loại các vi rút corona trong phân họ Orthocoronavirinae. (Nguồn: https://doi.163220) Trên thế giới đã ghi nhận có 7 chủng vi rút corona gây bệnh trên người, trong đó có 4 chủng gây viêm đường hô hấp nhẹ: 229E, NL63, HKU1, OC43; 3 chủng còn lại SARS-CoV-1, MERS-CoV và SARS-CoV-2 là các vi rút mới nổi, gây viêm phổi / viêm đường hô hấp cấp tính nặng (hình 1. 4 Vào cuối tháng 12 năm 2019, tổ chức Y tế thế giới (WHO) thông báo về dịch bệnh viêm phổi chưa xác định được căn nguyên ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc [93]. Ngày 30 tháng 1 năm 2020, WHO cảnh báo nguyên nhân gây dịch viêm phổi ở thành phố Vũ Hán được xác định là vi rút corona mới gây viêm đường hô hấp cấp tính [165].
Ngày 11 tháng 2 năm 2020, WHO có tên gọi chính thức về bệnh viêm phổi do vi rút corona mới gây ra là COVID-19. Hội đồng quốc tế về phân loại vi rút đặt tên vi rút này là SARS-CoV-2, thuộc phân chi Sarbecovirus, chi Betacoronavirus. Hình thái Virion của SARS-CoV-2 có dạng tương tự hình cầu, chiều dài khoảng 80 - 160 nm, có hình thái đặc trưng của vi rút corona, nằm trong các bào quan trong tế bào, chủ yếu là không bào (hình 1. Hình thái SARS-CoV-2 quan sát dưới kính hiển vi điện tử.
(Nguồn: https://www.net/figure/Morphology-of-SARS-CoV-2-Image- of-transmission-electron-microscopy-of-SARSCoV-2-round_fig1_356892579) 1. Cấu trúc SARS-CoV-2 Cấu trúc của SARS-CoV-2 tương tự như SARS-CoV-1 do hệ gen của nó có trình tự tương đồng cao với SARS-CoV-1 [118]. 5 Cấu trúc của SARS-CoV-2 bao gồm: một sợi RNA đơn dương, có kích thước khoảng 29,9 Kb được bao quanh bởi protein Nucleocapsid (N), phức hệ này được bao bọc bởi lớp vỏ có cấu tạo từ 3 protein cấu trúc là protein màng (M), protein gai (S) và protein vỏ (E) (hình 1. Cấu trúc SARS-CoV-2.
(Nguồn:https//www.fr/actualites/2020/Point-etape-projets COVID19.php) Cũng như các vi rút khác thuộc họ corona, hệ gen của SARS-CoV-2 mã hoá cho 4 protein cấu trúc (N, S, M, E) và 16 protein không cấu trúc (nsp1 đến nsp16). Cấu trúc hệ gen của SARS-CoV-2. (Nguồn: https://sibbm.it/italiano/2020/08/23/genoma-covid-19/) 6 Protein cấu trúc Trong 4 protein cấu trúc, 3 protein S, M và E tạo thành vỏ vi rút. Protein E là protein cấu trúc nhỏ nhất (75 amino acid) [68].
Protein S và M là hai protein xuyên màng, liên quan đến quá trình đóng gói trong quá trình sao chép vi rút. Protein S (1273 amino acid) gồm dưới đơn vị S1 và S2, tương tác với các thụ thể trên tế bào chủ, tạo điều kiện cho quá trình dung hợp màng tế bảo chủ - vi rút. Vùng S1 gồm một vùng liên kết thụ thể (RBD) và hai vùng nhỏ khác. Mặc dù protein S có áp lực chọn lọc cao, song vùng S2 và RBD của protein S được bảo tồn.
Hai vùng bảo tồn này là mục tiêu để phát triển các kỹ thuật chẩn đoán phân tử cũng như phát triển các xét nghiệm huyết thanh học chẩn đoán COVID-19. Protein S cũng được coi là một mục tiêu để phát triển vắc xin chống COVID-19. Các nền tảng sản xuất vắc xin như vắc xin tiểu đơn vị protein, vắc xin mRNA, vắc xin DNA hay vắc xin vector đều lấy protein S làm đích nghiên cứu [53, 95, 121, 176]. Protein N gồm 418 amino acid [195], kết hợp với RNA vi rút tạo thành nucleocapsid, nằm trong vỏ vi rút.
Vai trò của protein N chủ yếu liên quan đến sợi RNA vi rút, song cũng tham gia vào quá trình nhân lên của vi rút (đóng gói và nảy chồi vi rút) và đáp ứng của tế bào chủ khi tế bào nhiễm vi rút. Protein N là đích nghiên cứu cho các kỹ thuật xét nghiệm chẩn đoán sinh học phân tử cũng như huyết thanh học. Kháng nguyên protein N là một trong các dấu hiệu chẩn đoán sớm tốt nhất, có thể phát hiện ở thời điểm 1 ngày trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhiễm vi rút [178]. Protein N đã được nghiên cứu để phát triển các bộ sinh phẩm chẩn đoán SARS-CoV-2 như xét nghiệm nhanh kháng nguyên, bộ sinh phẩm ELISA phát hiện kháng thể.
Protein không cấu trúc Hệ gen của vi rút SARS-CoV-2 mã hoá cho 16 protein không cấu trúc, các protein không cấu trúc này có vai trò trong các hoạt động sao chép RNA, tổng hợp protein và nhận biết tế bào vật chủ [190]. Vai trò của mỗi loại protein không cấu trúc được trình bày trong bảng 1. Vai trò của các protein không cấu trúc của SARS-CoV-2. Protein Số axit amin Vai trò / chức năng Nsp1 180 Hỗ trợ vi rút trốn tránh hệ miễn dịch Nsp2 638 Là yếu tố cần thiết cho sự nhân lên của vi rút.
Nsp3 1945 Tạo thành phức hợp protein sao chép-phiên mã Nsp4 500 Có vai trò đối với quá trình sao chép RNA Đây là một protease 3-chymotrypsin-like (3CLpro), Nsp5 306 ảnh hưởng đến sự nhân lên của vi rút Nsp6 290 Chưa rõ Nsp7 83 Góp phần hình thành RdRp Nsp8 198 Tham gia vào quá trình sao chép RNA vi rút, liên Nsp9 113 quan đến cơn bão cytokine và làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân COVID-19 Làm tăng sản xuất cả IL-8 và IL-6 gây phản ứng Nsp10 139 viêm tương tự như nsp9 Nsp11 13 Chưa rõ chức năng Nsp12 932 Vai trò trong hoạt động của polymerase Nsp13 601 Vai trò trong quá trình sao chép và phiên mã Nsp14 527 Vai trò của Exoribonuclease Nsp15 346 Vai trò của Endoribonuclease Nsp16 298 Vai trò trong quá trình phiên mã 8 1. TÌNH HÌNH DỊCH COVID-19 TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1. Tình hình dịch COVID-19 trên thế giới Tháng 12 năm 2019, các trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp không rõ nguyên nhân bắt đầu xuất hiện ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc và nhanh chóng lây lan khắp thành phố. Ngày 31/12/2019, Ủy ban Y tế thành phố Vũ Hán đã ghi nhận một đợt bùng phát viêm phổi không xác định nguyên nhân và đồng thời thông báo cho Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Ngày 9/01/2020, Trung Quốc xác định tác nhân gây ra căn bệnh viêm phổi này là một loại vi rút mới chưa từng công bố trước đây và thuộc nhóm Betacoronavirus [186]. Tháng 2/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại vi rút đã đặt tên cho loại vi rút corona mới là ‘SARS-CoV-2’, WHO đặt tên cho bệnh viêm phổi do vi rút này là ‘COVID-19’ [138]. Sau gần 3 tháng xuất hiện, tính đến ngày 11/02/2020, SARS- CoV-2 được xác định đã gây bệnh cho 44.672 người ở Trung Quốc với tỉ lệ tử vong là 2,3% [193]. Dịch bệnh COVID-19 sau đó nhanh chóng lan rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Ngày 11/3/2020, WHO đã tuyên bố COVID-19 là đại dịch trên toàn cầu [20]. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp phòng dịch chưa từng có như: hạn chế đi lại và tụ tập đông người, đóng cửa các doanh nghiệp và trường học, phong toả các thành phố có dịch nhằm ngăn chặn sự lây lan của vi rút.